Mức lông, thuốc trị rắn độc cắn

Ngày: 2018-4-1

By member of dieutri.vn

Còn ở Thái Lan, vỏ thân dùng làm thuốc lợi tiêu hoá; gỗ được dùng trị đau mật và làm thuốc trợ đẻ, còn nhựa cây dùng trị lỵ

Mức lông - Wrightia tomentosa (Roxb.) Roem. et Schult., thuộc họ Trúc đào - Apocynaceae.

Mô tả

Cây nhỡ hay cây gỗ nhỏ cao tới 15m, có nhánh có lông nhung. Lá thuôn, hình bầu dục, có mũi nhọn, thót lại ở đầu và có đuôi nhiều hay ít, có lông ít hay nhiều ở mặt trên, có lông nhung và sáng hơn ở mặt dưới, dài 6-15cm, rộng 3-6cm. Hoa trắng, hồng hay vàng vàng, xếp thành xim tận cùng dạng ngù. Quả có hai đại dính nhau, màu đen, khía dọc, có rãnh dọc sâu, dài 13-28 (14-21) cm, rộng 10-14mm tới 3-4cm. Hạt rất nhiều, hình dải, hơi thắt lại ở đầu, màu nâu sáng, khía dọc, dài 11mm, rộng 2mm.

Hoa tháng 3-8, quả tháng 8-2.

Bộ phận dùng

Thân, rễ, lá - Caulis, Radix et Folium Wrightiae Tomentosae.

Nơi sống và thu hái

Loài phân bố ở Ân Độ, Mianma, nam Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Xri Lanca. Ở nước ta, cây mọc trong rừng thưa, trên đồi đá vôi và cả ở các hàng rào quanh các làng xóm ở Vĩnh Phú, Hà Tây, Hà Bắc.

Tính vị, tác dụng

Vỏ làm se và có thể dùng giải độc.

Công dụng

Ở Trung Quốc, người ta dùng vỏ rễ và lá làm thuốc nhuộm màu lam. Còn thân và rễ dùng làm thuốc trị rắn độc cắn.

Ở Ân Độ, vỏ thân dùng chế thuốc trị đau bụng kinh và đau thận. Còn ở Thái Lan, vỏ thân dùng làm thuốc lợi tiêu hoá; gỗ được dùng trị đau mật và làm thuốc trợ đẻ, còn nhựa cây dùng trị lỵ.

Ở nước ta, lá tươi có thể nghiền đắp trị nhọt độc. Có nơi ở Cao Bằng nhân dân dùng làm thuốc chữa vàng da sau khi sốt.