- Trang chủ
- Dược lý
- Cây thuốc đông y: y học cổ truyền
- Loa kèn trắng: làm mát phổi
Loa kèn trắng: làm mát phổi
Hoa loa kèn trắng, hay còn gọi là bạch huệ, là một loài hoa thuộc họ Loa kèn (Liliaceae). Đây là một trong những loài hoa được yêu thích nhất trên thế giới nhờ vẻ đẹp tinh khôi, hương thơm dịu nhẹ và ý nghĩa sâu sắc.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Hoa Loa Kèn Trắng (Bạch Huệ) - Lilium longiflorum Thumb.
Hoa loa kèn trắng, hay còn gọi là bạch huệ, là một loài hoa thuộc họ Loa kèn (Liliaceae). Đây là một trong những loài hoa được yêu thích nhất trên thế giới nhờ vẻ đẹp tinh khôi, hương thơm dịu nhẹ và ý nghĩa sâu sắc.
Mô tả
Thân: Thân cây cao, mảnh mai, thường không phân nhánh.
Lá: Lá hình mác, mọc so le, màu xanh đậm.
Hoa: Hoa lớn, hình chuông, màu trắng tinh khiết, có 6 cánh hoa xếp thành hình ngôi sao. Nhụy hoa vàng tươi nổi bật ở giữa.
Quả: Quả nang hình trụ, chứa nhiều hạt nhỏ.
Bộ phận dùng
Thường dùng củ và hoa.
Nơi sống và thu hái
Loài hoa này có nguồn gốc từ các vùng ôn đới và cận nhiệt đới ở châu Á. Ở Việt
Thành phần hóa học
Tinh dầu: Chứa các hợp chất thơm như benzyl acetate, linalool, và một số chất khác tạo nên hương thơm đặc trưng.
Alkaloid: Một số loài loa kèn có chứa alkaloid, tuy nhiên hàm lượng trong bạch huệ khá thấp.
Các chất khác: Đường, vitamin, khoáng chất.
Tính vị và tác dụng
Tính: Mát
Vị: Ngọt
Tác dụng:
Thanh nhiệt, giải độc
Lợi tiểu, tiêu thũng
Chữa ho, long đờm
An thần, giảm căng thẳng
Công dụng và chỉ định
Y học cổ truyền
Chữa các bệnh về đường hô hấp như ho, viêm họng, hen suyễn.
Điều trị các bệnh về thận như sỏi thận, viêm thận.
Hỗ trợ điều trị các bệnh về da như mụn nhọt, eczema.
Giúp giảm căng thẳng, mệt mỏi, cải thiện giấc ngủ.
Làm đẹp
Tinh dầu hoa loa kèn được sử dụng trong các sản phẩm chăm sóc da, tóc và nước hoa.
Hoa tươi có thể dùng để tắm, giúp thư giãn và làm đẹp da.
Phối hợp
Bạch huệ thường được kết hợp với các vị thuốc khác như kim ngân hoa, huyền sâm, mạch môn đong để tăng cường hiệu quả điều trị.
Cách dùng
Dạng thuốc sắc: Dùng củ hoặc hoa khô sắc uống.
Dạng thuốc ngâm rượu: Ngâm rượu củ hoặc hoa tươi để uống.
Dạng tinh dầu: Sử dụng tinh dầu để xông hơi, massage hoặc pha vào nước tắm.
Đơn thuốc
Chữa ho, long đờm: Bạch huệ 10g, cát cánh 10g, bạc hà 5g, sắc uống.
Giảm căng thẳng, mệt mỏi: Bạch huệ 10g, tâm sen 5g, táo nhân 5g, sắc uống.
Lưu ý
Phụ nữ mang thai và cho con bú nên thận trọng khi sử dụng.
Người có cơ địa dị ứng với hoa loa kèn nên tránh sử dụng.
Nên tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng bạch huệ để điều trị bệnh.
Thông tin bổ sung
Hoa loa kèn trắng là biểu tượng của sự trong trắng, thuần khiết và tình yêu vĩnh cửu.
Hoa thường được sử dụng để trang trí trong các đám cưới, lễ tang và các dịp đặc biệt khác.
Củ hoa loa kèn có thể ăn được và có vị ngọt thanh.
Bài viết cùng chuyên mục
Nhục đậu khấu: dùng làm thuốc trị lỵ ỉa chảy
Được dùng làm thuốc và dùng trong thuốc tễ dẻo ngọt trị lỵ, ỉa chảy mất trương lực, đau dạ dày, đầy hơi, buồn nôn, mửa, suy mòn, sốt rét, thấp khớp, đau thần kinh toạ
Anh đào
Quả có vỏ quả khá dày, thịt đỏ, mọng nước, mùi dễ chịu, có thể ăn được và chế rượu uống, người ta đã chế ra loại rượu Anh đào của Đà Lạt
Chua me đất hoa hồng: tác dụng lợi tiểu và giải nhiệt
Lá nghiền ra hãm trong nước sôi vài giờ, hoặc toàn cây sắc uống có tác dụng giải nhiệt và trị kiết lỵ
Giềng giềng đẹp, cây thuốc trị bệnh trĩ
Người ta dùng thân, lá nấu nước tắm trong trường hợp bị bệnh trĩ, Chúng cũng có tính làm giảm đau nên cũng được dùng tắm và chà xát trên cơ thể người bị co giật
Cà chắc: ăn để ngừng sinh sản
Có nhựa màu trắng vàng, dễ đông đặc, Ở Campuchia, người ta dùng nhựa cây cho lợn nái ăn để làm ngừng sinh sản.
Lương gai: trị ỉa chảy
Cây mọc trong rừng thưa ở vùng thấp lẫn vùng cao từ Lào Cai, Bắc Thái, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Vĩnh Phú, Hoà Bình qua Đà Nẵng đến Khánh Hoà.
Cát đằng cánh: dùng đắp trị đau đầu
Loài của miền Đông Châu Phi, được gây trồng, nay trở thành cây mọc hoang trong các lùm bụi ở Huế, Đà Lạt và thành phố Hồ Chí Minh
Huyết rồng: thuốc chữa huyết hư kinh bế
Dùng chữa huyết hư, kinh bế, di tinh, bạch đới, kinh nguyệt không đều và làm thuốc bổ huyết. Ngày dùng 20, 40g dạng thuốc sắc, rượu hoặc cao.
Giẻ nam bộ, cây thuốc tăng sữa
Quả có thể dùng ăn được, Lá hãm nước sôi dùng cho phụ nữ sinh đẻ uống để tăng lượng sữa
Quế hương: dùng trị trướng bụng và bệnh đau gan
Vị ngọt, cay, tính ấm, có tác dụng ôn trung tán hàn, lý khí chỉ thống, chỉ huyết sinh cơ, cầm máu nối xương, tiêu thũng
Nghệ ten đồng: phá huyết hành khí
Ở Inđônêxia, người ta dùng thân rễ sắc cho phụ nữ mới sinh đẻ uống. Còn ở Malaixia củ được dùng trị ho, hen suyễn và dùng ngoài trị gàu và vảy da
Lấu Poilane: cây thuốc
Loài đặc hữu của Trung Bộ Việt Nam, từ Thừa Thiên-Huế tới Khánh Hoà trong rừng ở độ cao 800m, Theo Poilane cây này được người Hoa tìm kiếm làm thuốc.
Lá buông cao, cây thuốc
Ở Ân Độ, người ta dùng quả giã ra thành bột dùng để duốc cá. Hạt cứng như ngà, dùng làm chuôi, nút áo; thân cho nhiều bột màu nâu
Cỏ đuôi lươn: dùng chữa sản hậu
Ở Trung Quốc, toàn cây được dùng trị ghẻ, nấm, ở Việt Nam, người ta sắc nước cho phụ nữ có mang uống; có nơi còn dùng chữa sản hậu.
Chành ràng: dùng chữa thống phong và thấp khớp
Lá hãm uống dùng trị sốt. Còn dùng chữa thống phong và thấp khớp, trị các vết thương sưng phù và bỏng. Vỏ gỗ nấu nước tắm và chườm nóng làm se
Quảng phòng kỷ: tác dụng lợi niệu khư phong
Ở Trung Quốc, cây được dùng trị phong thũng, thủy thũng, tiểu tiện khó khăn, phong thấp tê đau, cước khí thấp thũng, hạ bộ ung thũng và thấp sang
Giam: cây thuốc dùng trị sốt
Lá non rất đắng; nếu phơi khô, nghiền bột và nấu chín có thể dùng làm thức ăn, gây kích thích sự ăn ngon miệng.
Hoa bươm bướm, cây thuốc chữa bệnh ngoài da
Cây được dùng trị các chứng bệnh ngoài da như eczema, trứng cá, vẩy nến, nấm tóc, chốc lở, bệnh nấm, loét, Cũng dùng trị viêm tĩnh mạch, trị ecpet
Phá cố chỉ: dùng trị lưng cốt đau mỏi
Được dùng trị lưng cốt đau mỏi, người già đái són, đái dắt, ỉa chảy kéo dài, gầy yếu ra nhiều mồ hôi, thần kinh suy nhược, di tinh; dùng ngoài trị phong bạch điển.
Đầu heo, cây thuốc chữa hen suyễn
Vỏ để nhuộm và thuộc da. Quả ăn được tuy hơi chua, Lá dùng làm thức ăn cho vật nuôi, và có thể dùng để luyện thuốc trị bệnh suy nhược
Phong hà: chữa kinh nguyệt không đều
Vị ngọt, tính ấm, có tác dụng khư phong lợi thấp, hoạt huyết tán ứ, điều kinh, tiêu thũng giảm đau, thường được dùng chữa phong thấp tê đau, thiên đầu thống, kinh nguyệt không đều
Lan sóc sách: thuốc tư âm ích vị
Được dùng chữa bệnh nhiệt thương tổn đến tân dịch, miệng khô phiền khát, sau khi có bệnh bị hư nhiệt.
Lá hến, thuốc trị lỵ
Ở Ân Độ, nước hãm lá khô dùng trị lỵ, ỉa chảy, rong kinh và bạch đới. Cũng được dùng uống trục sỏi niệu đạo và tăng cường sự phát triển của bệnh sởi
Mộc tiền to: thuốc trị ho
Ở Ân Độ và Malaixia, rễ lấy trong các lá hình bầu dùng phối hợp với lá Trầu không làm thuốc trị ho; các thân bò cũng có thể thay thế cho rễ.
Ba chẽ, cây thuốc chữa lỵ
Mặt dưới lá màu trắng bạc, Lá non có lông trắng ở cả hai mặt, Hoa màu trắng tụ họp ở nách lá. Quả đậu có lông, thắt lại ở các hạt
