- Trang chủ
- Dược lý
- Cây thuốc đông y: y học cổ truyền
- Hoa hiên: cây thuốc thanh nhiệt lợi niệu
Hoa hiên: cây thuốc thanh nhiệt lợi niệu
Hoa hiên (Hemerocallis fulva L.) là một loài cây thân thảo thuộc họ Hoa hiên (Hemerocallidaceae), thường được trồng làm cảnh và sử dụng trong y học cổ truyền.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Hoa Hiên (Hemerocallis fulva L).
Hoa hiên (Hemerocallis fulva L.) là một loài cây thân thảo thuộc họ Hoa hiên (Hemerocallidaceae), thường được trồng làm cảnh và sử dụng trong y học cổ truyền. Loài cây này có hoa đẹp, màu sắc tươi sáng và có nhiều công dụng trong việc điều trị các bệnh khác nhau.
Mô tả
Thân: Thân rễ ngắn, nhiều rễ con.
Lá: Lá hình mác, dài, mọc thành bụi.
Hoa: Hoa lớn, màu vàng cam, mọc thành cụm ở đầu thân.
Quả: Quả nang.
Bộ phận dùng
Thường dùng rễ, lá và hoa.
Nơi sống và thu hái
Môi trường sống: Cây hoa hiên thích hợp với nhiều loại đất, từ đất thịt đến đất cát. Chúng thường được trồng làm cảnh ở các vườn nhà, công viên.
Thu hái: Có thể thu hái quanh năm, nhưng thời điểm thu hái tốt nhất là vào mùa hè khi cây ra hoa.
Thành phần hóa học
Các nghiên cứu cho thấy hoa hiên chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học:
Flavonoid: Có tác dụng chống oxy hóa, kháng viêm.
Saponin: Có tác dụng long đờm, giảm ho.
Các hợp chất phenolic: Có tác dụng chống ung thư.
Tính vị và tác dụng
Vị ngọt, tính mát.
Giải nhiệt: Làm giảm sốt.
Cầm máu: Dừng chảy máu.
Tiêu viêm: Giảm sưng viêm.
Giảm đau: Làm dịu các cơn đau.
Hoạt huyết: Tăng cường tuần hoàn máu.
Công dụng và chỉ định
Các bệnh về đường hô hấp: Ho, viêm họng, hen suyễn.
Các bệnh về tiêu hóa: Viêm dạ dày, đại tràng, đầy bụng.
Các bệnh về phụ khoa: Kinh nguyệt không đều, rong kinh.
Các bệnh ngoài da: Mụn nhọt, vết thương.
Phối hợp
Hoa hiên thường được kết hợp với các vị thuốc khác để tăng cường hiệu quả điều trị. Ví dụ: kết hợp với kim ngân, sài đất để chữa các bệnh ngoài da; kết hợp với mạch môn đong, địa liền để cầm máu.
Cách dùng
Dùng trong: Sắc uống, hãm trà.
Dùng ngoài: Giã nát đắp hoặc nấu nước xông.
Đơn thuốc
Để có đơn thuốc cụ thể và phù hợp với từng trường hợp bệnh, nên tham khảo ý kiến của thầy thuốc y học cổ truyền.
Lưu ý
Mặc dù có nhiều công dụng, nhưng việc sử dụng hoa hiên để chữa bệnh cần thận trọng.
Không tự ý sử dụng vì có thể gây ra các tác dụng phụ không mong muốn.
Đối với phụ nữ mang thai và trẻ em, cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
Thông tin bổ sung
Hoa hiên không chỉ có giá trị làm thuốc mà còn là một loài cây cảnh đẹp. Hoa của chúng có nhiều màu sắc rực rỡ, tạo điểm nhấn cho không gian sống.
Hiện nay, các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu để tìm ra thêm nhiều công dụng mới của hoa hiên.
Bài viết cùng chuyên mục
Mộc tiền to: thuốc trị ho
Ở Ân Độ và Malaixia, rễ lấy trong các lá hình bầu dùng phối hợp với lá Trầu không làm thuốc trị ho; các thân bò cũng có thể thay thế cho rễ.
Đầu nưa: cây thuốc trị nọc rắn
Gốc ở Trung Mỹ, được nhập trồng ở Thảo cầm viên và các vườn cảnh ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Lài sơn, thuốc khư phong trừ thấp
Toàn cây có vị đắng, hơi cay, tính ấm, có tác dụng hành huyết khư phong tiêu thũng giảm đau
Hồng bì, cây thuốc hạ nhiệt
Lá có vị đắng và cay, tính bình, có tác dụng hạ nhiệt, làm long đờm, Rễ và hạt có vị đắng và cay tính hơi ấm; có tác giảm đau, lợi tiêu hoá, tiêu phù
Nấm xốp hồng, dùng làm gia vị
Nấm mọc đơn độc trên đất rừng, đặc biệt rừng có lẫn cây sồi, dẻ, ở môi trường chua. Thường xuất hiện vào mùa hè và mùa thu, với nhiều dạng
Chi hùng tròn tròn: rễ cây được dùng hãm uống trị sốt rét
Loài đặc hữu của Campuchia và Nam Việt Nam, Ở nước ta, cây mọc ở rừng từ Phan rang vào Nam nhưng số lượng không nhiều.
Ngô thù du: chữa ăn uống không tiêu
Vị cay, đắng, tính nóng, hơi độc, có tác dụng thu liễm, trừ phong, giảm đau, sát trùng, kích thích, lợi trung tiện, lợi tiêu hoá.
Hoàng đàn giả, cây thuốc trị đau bụng và tê thấp
Còn dùng để cất tinh dầu thơm hay tán bột làm hương trầm, làm thuốc chữa đau bụng và tê thấp
Nghể bào: trị rắn độc cắn
Lá có phiến xoan thon, dài 5 đến 8cm, rộng 3 đến 5cm, gốc tròn rồi từ từ hẹp trên cuống, chóp nhọn, có lông mịn, mép có rìa lông.
Lá lốt, thuốc trị phong hàn thấp
Dùng trị phong hàn thấp, tay chân lạnh, tê bại, rối loạn tiêu hoá, nôn mửa, đầy hơi, sình bụng, đau bụng ỉa chảy, thận và bàng quang lạnh, đau răng
Lạc: thuốc trị suy nhược
Lạc có vị ngọt, bùi, béo có tác dụng bổ tỳ, dưỡng vị, nhuận phế, lợi tràng. Trong hạt lạc có một chất cầm máu, có tác dụng trên trương lực cơ.
Nữ lang nhện: cây thuốc trị nhức đầu đau dạ dày
Vị cay, đắng, ngọt, mùi thơm, có tác dụng giảm đau, trừ thấp tán hàn, điều kinh hoạt huyết và cầm máu. Tinh dầu có tác dụng kháng sinh và kháng động vật nguyên bào
Giáng hương ấn: cây thuốc ỉa chảy mạn tính
Dùng uống trong trường hợp ỉa chảy mạn tính, xuất huyết, bạch đới, lậu và dùng trám răng, ở Malaixia, dùng chữa đau dạ dày, tim hồi hộp.
Mộc nhĩ trắng, có tác dụng bổ chung
Nên thu hái vào sáng sớm, chiều tối hay trong những ngày ẩm trời, râm mát. Dùng một cái dao tre để gỡ nấm. Rửa sạch, loại bỏ tạp chất rồi phơi hay sấy khô
Dung đen: cây thuốc chữa nấm ghẻ
Cây mọc trong rừng núi cao giữa 900m và 1500m một số nơi trên miền Bắc và qua Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hoà đến Lâm Đồng.
Bìm bìm tía, trừ thấp nhiệt
Cây mọc tự nhiên ở độ cao 2000m, và cũng được trồng ở Himalaya. Thu hái vào mùa thu, đông, phơi khô đập lấy hạt
Hoa tiên, cây thuốc bổ
Người ta dùng rễ và lá làm thuốc bổ, tăng cường thể lực, Lá còn được dùng chữa ăn uống khó tiêu, đau bụng
Gáo tròn, cây thuốc sát trùng
Ở Ân Độ, người ta dùng vỏ làm thuốc sát trùng các vết thương, Ở Campuchia, người ta dùng rễ trị ỉa chảy và lỵ
Hoàng tinh hoa đốm, cây thuốc bổ
Ở nước ta, chỉ thấy mọc ở rừng thường xanh ở Nghĩa Lộ và Lâm Đồng, Công dụng, chỉ định và phối hợp, Cây dùng làm thuốc bổ, giảm đau
Ngọc trúc hoàng tinh: chữa cơ thể suy nhược
Ngọc trúc hoàng tinh là thuốc bổ chữa cơ thể suy nhược, sốt nóng âm ỉ, mồ hôi ra nhiều, mồ hôi trộm
Cò ke lá ké: cây thuốc đắp các vết thương
Cây mọc ở vùng đồi núi các tỉnh Kontum, Lâm Đồng, Đồng Nai, người ta giã lá để đắp các vết thương do bị ngoại thương xuất huyết
Quả ngọt: khư phong trừ thấp điều kinh hoạt huyết
Cây được dùng chữa Phong thấp, đau nhức khớp xương, đòn ngã tổn thương, kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, bế kinh, dùng ngoài trị ngoại thương xuất huyết, rắn độc cắn.
Mái dầm: thuốc trị kiết lỵ
loài C.yunnanenses H. Li được dùng trị đòn ngã tổn thương, phong thấp, đau nhức xương, viêm dạ dày ruột cấp tính viêm đa khớp, tay chân rũ mỏi, lưng đùi đau nhức, bệnh cấp tính.
Đậu hoa tuyến: cây thuốc chữa đau co thắt ruột
Loài liền nhiệt đới, thường gặp ven rừng, đầm lầy, bình nguyên gần bờ biển ở các tỉnh Nam Bộ, Ở Ân Độ, nước sắc cây dùng để chữa đau co thắt ruột.
Mắc coọc: thanh nhiệt giải khát
Quả có vị chua, hơi ngọt và hơi chát, có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, sinh tân dịch, mát phổi. Vỏ rễ có vị chua chát, tính hàn, có tác dụng giải độc, trừ ngứa.
