Mò mâm xôi: khư phong trừ thấp

2018-03-17 11:11 AM

Mò mâm xôi, với tên khoa học Clerodendrum philippinum Schauer var. simplex, là một loài thực vật thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae). Cây được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như vây trắng, bần trắng và thường được tìm thấy ở các vùng nhiệt đới ẩm.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Mò Mâm Xôi - Vị Thuốc Quanh Ta.

Mò mâm xôi, với tên khoa học Clerodendrum philippinum Schauer var. simplex, là một loài thực vật thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae). Cây được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như vây trắng, bần trắng và thường được tìm thấy ở các vùng nhiệt đới ẩm. Mò mâm xôi không chỉ có vẻ đẹp độc đáo với những chùm hoa trắng tinh khiết mà còn mang trong mình nhiều giá trị dược liệu quý.

Mô tả

Cây mò mâm xôi thường mọc thành bụi, cao khoảng 1-1,5m. Lá cây có hình dáng đặc trưng, to bản, mọc đối, mặt trên lá có nhiều lông nhỏ. Hoa mò mâm xôi mọc thành cụm ở đầu cành, có màu trắng hoặc hơi hồng, tỏa ra mùi thơm nhẹ nhàng. Quả của cây có hình cầu, khi chín có màu đen.

Bộ phận dùng

Thường dùng rễ và lá.

Nơi sống và thu hái

Mò mâm xôi phân bố rộng rãi ở các nước châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Đông Nam Á khác. Ở Việt Nam, cây mọc hoang và cũng được trồng làm cảnh hoặc lấy thuốc.

Thành phần hóa học

Các nghiên cứu cho thấy, trong cây mò mâm xôi chứa nhiều hợp chất hóa học có hoạt tính sinh học như flavonoid, terpenoid, và các hợp chất phenolic. Chính các hợp chất này đã mang lại cho cây những tác dụng dược lý quý giá.

Tính vị và tác dụng

Theo y học cổ truyền, mò mâm xôi có vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, giảm đau.

Công dụng và chỉ định

Điều trị các bệnh về đường hô hấp: Mò mâm xôi được sử dụng để điều trị các bệnh như ho, viêm họng, viêm phế quản.

Điều trị các bệnh về da: Cây có tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm nên được dùng để điều trị các bệnh ngoài da như mụn nhọt, eczema.

Giảm đau: Các hợp chất trong cây có tác dụng giảm đau hiệu quả, thường được dùng để giảm đau nhức xương khớp.

Thanh nhiệt, giải độc: Mò mâm xôi giúp thanh nhiệt cơ thể, giải độc, đặc biệt hiệu quả trong việc điều trị các bệnh do nhiệt độc gây ra.

Phối hợp

Mò mâm xôi thường được kết hợp với các vị thuốc khác để tăng cường hiệu quả điều trị.

Cách dùng

Mò mâm xôi có thể được sử dụng dưới nhiều dạng như:

Dạng thuốc sắc: Dùng rễ và lá cây sắc uống.

Dạng thuốc ngâm rượu: Rễ cây ngâm rượu uống.

Dạng thuốc đắp: Dùng lá cây tươi giã nát đắp lên vùng da bị tổn thương.

Đơn thuốc

Điều trị ho, viêm họng: Rễ mò mâm xôi 10g, lá húng chanh 10g, sắc uống ngày 2 lần.

Điều trị mụn nhọt: Lá mò mâm xôi giã nát, đắp lên vùng da bị mụn nhọt.

Lưu ý

Phụ nữ mang thai và cho con bú nên thận trọng khi sử dụng.

Người có cơ địa dị ứng với cây nên tránh sử dụng.

Để đạt hiệu quả điều trị tốt nhất, nên tham khảo ý kiến của bác sĩ hoặc thầy thuốc đông y.

Thông tin bổ sung

Mò mâm xôi không chỉ là một vị thuốc quý mà còn là một loài cây cảnh có giá trị thẩm mỹ cao. Cây thường được trồng làm hàng rào, tạo bóng mát hoặc trồng trong chậu để trang trí không gian sống.

Bài viết cùng chuyên mục

Bàm bàm nam, cây thuốc chống co giật

Dây có vị hơi đắng và se, tính bình có tác dụng trừ phong thấp và hoại huyết, Hạt có vị ngọt và se, tính bình, có độc, có tác dụng chống co giật, giảm đau, lợi tiểu

Kinh giới đất, thuốc chữa cảm cúm

Cũng như nhiều loài khác, có thể dùng làm thuốc phát hàn và lợi tiểu, giải nắng, chỉ hoắc loạn, đau bụng, mặt mắt phù nề, cước khí và cấp tính viêm dạ dày

Bả chuột, cây có độc diệt chuột

Lan biểu sinh, có rễ dạng sợi, đường kính 5mm, các hành giả dài 4, 5cm, dày 2, 3cm, có góc rãnh, bao bởi các sợi do các lá bẹ bị rách, lá thuôn dài 15, 25cm

Chua me lá me: có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, tiêu viêm

Nhân dân thường lấy cành lá luộc với rau Muống cho có vị chua mát hoặc nấu giấm chua với cá, thường được dùng làm thuốc chữa nóng ruột, xót ruột, viêm ruột ỉa chảy và ho ra máu

Bông vàng, uống làm thuốc tẩy

Cành lá sắc uống làm thuốc tẩy, trị sốt, sốt rét, tê thấp. Lá hãm uống tẩy và chữa bệnh táo bón dai dẳng sau khi bị nhiễm độc chì

Chi tử bì: rễ cây được dùng trị phong thấp

Công dụng, chỉ định và phối hợp, Ở Vân Nam Trung Quốc, rễ cây được dùng trị phong thấp, đòn ngã và bệnh bạch huyết

Dương đầu tà, cây thuốc trị vết thương

Cụm hoa ở nách lá gồm 1, 3 bông, Hoa trắng, khi khô chuyển sang màu vàng, Quả hình trứng, bao bởi đài hoa cùng lớn lên với quả

Đơn răng cưa: cây thuốc tránh ỉa chảy

Lá được dùng để ăn với nem, ăn gỏi thịt nhằm trừ độc thức ăn và tránh bệnh ỉa chảy, Lá cũng được dùng làm thuốc chữa mẩn ngứa, ghẻ.

Ghẻ, cây thuốc trị ghẻ

Còn phân bố ở Campuchia, Ân Độ, Malaixia, Inđônêxia, Công dụng, chỉ định và phối hợp, Lá, vò ra ngâm vào nước dùng trị ghẻ

Cao su: làm thuốc dán, thuốc cao lá

Cao su được dùng ỏ trạng thái nguyên để làm thuốc dán, thuốc cao lá. Nó cũng được sử dụng làm các đồ phụ tùng

Dướng, cây thuốc bổ thận

Cây mọc hoang trong rừng ở nhiều nơi của nước ta và cũng được trồng quanh các làng và làm cảnh, Thu hái quả chín vào mùa hè, thu, rửa sạch, phơi khô

Bùm bụp trườn: uống trị cảm sốt

Rễ cây sắc nước uống trị cảm sốt. Lá dùng trị mụn nhọt, ghẻ lở. Ở Trung Quốc, người ta dùng rễ, thân và lá làm thuốc trị phong thấp, đau nhức xương, đau lưng đùi.

Quản trọng: có tác dụng làm mát phổi hóa đờm

Quản trọng có vị ngọt, tính mát, có tác dụng làm mát phổi, hóa đờm, Ở Malaixia người ta xem như là bổ và hạ nhiệt, Ở Ấn Độ xem như là nhuận tràng, chống độc và giảm đau

Bùm bụp bông to, dùng rửa sạch vết thương

Nước sắc lá dùng rửa sạch vết thương và lá hơ nóng dùng làm thuốc đắp vết thương và mụn nhọt

Nấm đỏ, làm bả diệt ruồi

Nấm gây ngộ độc mạnh với ảo giác và rối loạn gan, nhưng cũng thường không chết người. Nhân dân dùng nấm này để làm bả diệt ruồi

Mộc tiền to: thuốc trị ho

Ở Ân Độ và Malaixia, rễ lấy trong các lá hình bầu dùng phối hợp với lá Trầu không làm thuốc trị ho; các thân bò cũng có thể thay thế cho rễ.

Mã tiền cành vuông, cây thuốc

Hoa nhỏ màu trắng hay màu vàng nhạt, lá đài 5, có lông, ống tràng ngắn, thường dài 3mm. Quả chín màu vàng cam, đường kính 2cm

Chìa vôi bốn cạnh: trị rối loạn tiêu hoá

Ở nước ta, nhân dân thường dùng dây sắc uống làm trà cho phụ nữ sau khi sinh đẻ uống cho lại sức, Còn Ấn Độ, người ta dùng lá và chồi hoa giã làm bột để trị rối loạn tiêu hoá.

Cải rừng bò: thanh nhiệt giải độc

Vị nhạt, cay, hơi đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán ứ tiêu sưng, rút mủ lên da, làm trong phổi, khỏi ho.

Chua me đất: làm thuốc mát thông tiểu và trị bệnh scorbut

Chua me đất, với tên khoa học Oxalis acetosella, là một loài cây nhỏ bé nhưng mang nhiều giá trị dược liệu.

Chùm hôi trắng: dùng để trị lỵ ỉa chảy

Người ta dùng ăn sáng để trị lỵ, nghiền nát ra và đắp ngoài để trị phát ban da; dùng sắc với rượu bia đắng lấy nước như là thuốc hạ sốt và dùng trị rắn cắn

Cát sâm: chữa cơ thể suy nhược

Cũng có thể tán bột uống. Người ta cũng thường dùng củ làm thuốc bổ mát, chữa nhức đầu, khát nước, bí đái.

Nấm sò: thư cân hoạt lạc

Nấm sò có mũ nấm hình vỏ sò, màu xám tro đến nâu sẫm, mép mũ thường cong vào trong. Thân nấm ngắn, bám chắc vào gỗ mục.

Giá co: cây thuốc thanh nhiệt mát gan

Lá nấu canh ăn được, Dân gian dùng toàn cây chữa rắn cắn và chữa chân tay co quắp, Ở Trung Quốc có nơi dùng chữa bệnh về gan và phổi.

Lâm phát: thuốc điều kinh hoạt huyết

Ở Ân Độ, các hoa đỏ, dẹp dùng để nhuộm bông, lụa và da cho có màu đỏ, hoa khô được dùng như thuốc săn da để chữa lỵ, rong kinh.