Hoa cỏ: cây thuốc ướp hương

2017-11-14 03:28 AM

Bothriochloa pertusa là một loài cỏ thuộc họ Lúa (Poaceae), có tên gọi khác là Amphilophis pertusa. Loài cỏ này phân bố rộng rãi trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Hoa Cỏ Bothriochloa pertusa (L.) A. Camus

Bothriochloa pertusa là một loài cỏ thuộc họ Lúa (Poaceae), có tên gọi khác là Amphilophis pertusa. Loài cỏ này phân bố rộng rãi trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam.

Mô tả

Thân: Thân cỏ, phân nhánh nhiều, tạo thành bụi.

Lá: Lá hình mác, dài, hẹp, có lông ở mặt trên.

Hoa: Cụm hoa hình chùy, các bông nhỏ xếp thành hai hàng trên một trục chung.

Quả: Quả bóc, hình bầu dục.

Bộ phận dùng

Thường dùng toàn cây, thu hái quanh năm, phơi khô hoặc dùng tươi.

Nơi sống và thu hái

Loài cỏ này thường mọc hoang ở các vùng đất trống, ven đường, đồi núi thấp.

Thành phần hóa học

Hiện tại, chưa có nhiều nghiên cứu sâu về thành phần hóa học cụ thể của loài cỏ này. Tuy nhiên, như nhiều loài cỏ khác, Bothriochloa pertusa có thể chứa các hợp chất như flavonoid, alkaloid, và các hợp chất phenolic.

Tính vị và tác dụng

Tính vị: Thông thường, các loài cỏ trong họ Lúa có vị nhạt, tính mát.

Tác dụng: Theo kinh nghiệm dân gian, loài cỏ này có tác dụng:

Làm mát: Giúp hạ nhiệt cơ thể.

Kháng viêm: Giảm sưng viêm.

Lành vết thương: Hỗ trợ quá trình liền sẹo.

Công dụng và chỉ định

Chữa các bệnh ngoài da

Viêm da: Dùng lá tươi giã nát đắp lên vùng da bị viêm.

Mụn nhọt: Dùng lá sắc uống hoặc đắp ngoài.

Hỗ trợ tiêu hóa

Chữa đầy bụng, khó tiêu: Dùng toàn cây sắc uống.

Làm mát cơ thể

Hạ sốt: Dùng lá sắc uống.

Phối hợp

Thường được kết hợp với các vị thuốc khác để tăng cường hiệu quả điều trị. Ví dụ: kết hợp với kim ngân, sài đất để chữa các bệnh ngoài da.

Cách dùng

Dùng ngoài: Lá tươi giã nát đắp hoặc sắc đặc rửa.

Dùng trong: Sắc uống.

Đơn thuốc

Để có đơn thuốc cụ thể và phù hợp với từng trường hợp bệnh, nên tham khảo ý kiến của thầy thuốc y học cổ truyền.

Lưu ý

Mặc dù có nhiều công dụng, nhưng việc sử dụng cỏ Bothriochloa pertusa để chữa bệnh cần thận trọng.

Không tự ý sử dụng vì có thể gây ra các tác dụng phụ không mong muốn.

Đối với phụ nữ mang thai và trẻ em, cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.

Thông tin bổ sung

Loài cỏ này cũng có giá trị trong việc bảo vệ môi trường: Giúp giữ đất, chống xói mòn.

Ngoài ra, cỏ Bothriochloa pertusa còn được sử dụng làm thức ăn cho gia súc.

Lưu ý: Thông tin trên mang tính chất tham khảo và không thay thế cho lời khuyên của chuyên gia y tế.

Bài viết cùng chuyên mục

Muống biển: trừ thấp tiêu viêm

Nhân dân ta thường dùng lá Muống biển làm thức ăn cho thỏ, dê, ngựa, chuột lang; cũng dùng cho trâu bò nhưng chúng không thích ăn vì có mùi hăng và làm cho sữa bò có mùi vị không ngon.

Ngẫn chày, chữa các rối loạn của dạ dày

Cuống hoa phân nhánh từ gốc và chia thành xim hai ngả. Các lá đài và cánh hoa đều có lông. Lá noãn chín dạng trứng ở trên một cuống quả khá bậm, hơi ngắn hơn chúng

Cà na: bổ và lọc máu

Vỏ dùng hãm nước cho phụ nữ mới sinh đẻ uống trong vòng 15 ngày sau khi sinh

Nghể hình sợi: tác dụng tán ứ

Đòn ngã tổn thương, gẫy xương, đau lưng, đau dạ dày, đau bụng kinh, sản hậu đau bụng, phổi nóng ho ra máu, lao hạch và kiết lỵ.

Gai: cây thuốc thanh nhiệt giải độc

Rễ gai có vị ngọt, tính hàn, không độc, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu viêm, an thai, chỉ huyết.

Lá hến, thuốc trị lỵ

Ở Ân Độ, nước hãm lá khô dùng trị lỵ, ỉa chảy, rong kinh và bạch đới. Cũng được dùng uống trục sỏi niệu đạo và tăng cường sự phát triển của bệnh sởi

Nuốt lá cò ke: cây thuốc sắc uống trị ỉa chảy

Người ta dùng rễ sắc nước cho phụ nữ sinh đẻ uống trong 15 ngày đầu sau khi sinh; còn dùng phối hợp với các vị thuốc khác sắc uống trị viêm tử cung.

Cầy: chữa no hơi đầy bụng

Ở Campuchia, vỏ cây được sử dụng trong toa thuốc bổ, dùng cho phụ nữ mới sinh đẻ uống cho khoẻ. Dầu hạt dùng làm xà phòng và thắp đèn.

Ngưu tất: hạ cholesterol máu

Ngưu tất có vị đắng, chua mặn, tính bình, có tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, phá ứ huyết, tiêu ung độc.

Cáp vàng: xông khói chữa bệnh

Ở Campuchia, người ta dùng các hoa tươi làm rau ăn. Gỗ nghiền thành bột dùng để xông khói chữa bệnh cho người bị choáng váng.

Bông vàng lá hẹp: làm thuốc sát trùng

Gốc ở Brazil, được nhập trồng làm cảnh ở Cần Thơ, và vùng đồng bằng sông Cửu Long, ở Trung Quốc, người ta sử dụng cây làm thuốc sát trùng, diệt bọ gậy.

Chay lá bóng: làm thuốc chữa ho ra máu thổ huyết

Loài phân bố ở Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan. Ở nước ta, cây mọc hoang trong rừng và đất khai hoang ở Khánh Hoà, Đồng Nai

Ngấy: chữa tiêu hoá kém

Ngấy hương có vị chua, hơi ngọt, tính bình, mùi thơm nhẹ; có tác dụng giúp tiêu hoá, bổ ngũ tạng, ích tinh khí, mạnh chí, thêm sức, giải độc, tiêu phù.

Ngọc trúc: dưỡng âm, nhuận táo

Ngọc trúc có vị ngọt, tính hơi hàn, có tác dụng dưỡng âm, nhuận táo, sinh tân chỉ khát

Ban rỗ: cây thuốc thanh nhiệt giải độc

Quả và hạt có khi còn được dùng phối hợp với các vị thuốc khác để trị các bệnh về da, điều hoà kinh nguyệt và trị lậu.

Chân chim leo: thuốc chữa phong thấp đau xương

Thường dùng như vỏ thân các loài Chân chim khác làm thuốc giúp tiêu hoá và làm thuốc chữa phong thấp, đau xương, chân tay nhức mỏi và bị thương sưng đau

Chìa vôi lông: dùng chữa mụn nhọt, ghẻ và dùng giải độc

Ta thường dùng chữa mụn nhọt, ghẻ và dùng giải độc, lọc huyết, Ở Trung Quốc Hải Nam người ta dùng trị bắp thịt bầm sưng mưng mủ.

Móc diều: trị phong hàn cảm mạo

Ở Trung Quốc, rễ được dùng trị phong hàn cảm mạo, sởi không mọc, sán khí, viêm nhánh khí quản. Hạt dùng trị sốt rét, lỵ. Lõi thân dùng trị trẻ em cam tích.

Lạc địa, thuốc giải độc

Thường được trồng làm cây phủ đất trong các đồn điền. Cũng dùng được làm thức ăn gia súc. Đồng bào dân tộc ở Bắc Thái dùng toàn cây chữa phù thận

Gạt nai, cây thuốc trị bệnh thuỷ đậu

Người ta dùng lá thay thế men để chế biến rượu gạo, Ở Campuchia, người ta dùng vỏ hãm uống để trị bệnh thuỷ đậu

Cẩm cù: khư phong trừ thấp

Cây phụ sinh leo quấn hoặc bụi, cao tới 2m. Cành hình trụ, có lông tơ mịn. Lá mập, phiến bầu dục dài tới 7cm, rộng 2,5cm, tù hai đầu. Gần gân phụ có 5-7 cặp gân rất mảnh, màu đỏ đậm.

Na: chữa lỵ và ỉa chảy

Hạt Na có vị đắng, hơi hôi, tính lạnh, có tác dụng thanh can, giải nhiệt, tiêu độc, sát trùng. Lá cũng có tác dụng kháng sinh tiêu viêm, sát trùng.

Câu đằng Bắc: chữa nhức đầu, chóng mặt hoa mắt ù tai

Gai và cành dùng chữa nhức đầu, chóng mặt hoa mắt ù tai do huyết áp cao, trẻ em sốt cao lên kinh giật nổi ban, lên sởi, sưng khớp.

Cát sâm: chữa cơ thể suy nhược

Cũng có thể tán bột uống. Người ta cũng thường dùng củ làm thuốc bổ mát, chữa nhức đầu, khát nước, bí đái.

Nhài thon: trị đau nhức khớp thắt lưng

Nhài thon là một loài cây thuộc họ Ô liu, được biết đến với hương thơm đặc trưng và vẻ đẹp thanh lịch. Loài cây này không chỉ được trồng làm cảnh mà còn có nhiều ứng dụng trong y học và ẩm thực.