Cola: sử dụng trong các trường hợp mất trương lực

2019-02-20 01:04 PM
Được sử dụng trong các trường hợp mất trương lực, đang dưỡng sức, suy nhược thần kinh, bệnh tim và phổi, cảm cúm.

Cola - Cola acuminata (P. Beauv.) Scholl et Endl., thuộc họ Trôm - Sterculiaceae.

Mô tả

Cây gỗ nhỏ, dạng như Xoài. Lá chụm ở chót nhánh; phiến bầu dục, tròn dài, đầu có mũi, màu xanh tươi, không lông; gân phụ 5 - 6 cặp; mép nhăn; cuống tròn, dài 3cm, phù ở hai đầu. Chùm hoa có cuống dài, đỏ. Quả đại 2 - 5, to 7 x 11cm, chứa cỡ 10 hạt to, trắng, có lá mầm tím.

Hoa tháng 3, quả tháng 4.

Bộ phận dùng

Hạt - Semen Colae Nitidae.

Nơi sống và thu hái

Cây có nguồn gốc từ miền bờ biển Tây Bắc châu Phi được nhập vào trồng ở một số nơi; hiện nay còn có ở Hà Giang, Lâm Đồng và Thảo cẩm viên thành phố Hồ Chí Minh.

Thành phần hoá học

Có cafein, kolatin, tanin, theobromin.

Tính vị, tác dụng

Có tác dụng kích thích thần kinh, bổ tim và trợ cơ, lợi tiểu, kích dục.

Công dụng, chỉ định và phối hợp

Được sử dụng trong các trường hợp mất trương lực, đang dưỡng sức, suy nhược thần kinh, bệnh tim và phổi, cảm cúm. Người ta thường dùng hạt giã ra với liều 4 - 8g/ngày. Hoặc dùng cồn thuốc, bột dập viên, cao lỏng hoặc dùng hạt tươi nhai thong thả.

Bài xem nhiều nhất

A phiện (thuốc phiện), cây thuốc trị ho, ỉa chảy, đau bụng

Vị chua, chát, tính bình, có độc; có tác dụng liễm phế, sáp trường, chỉ thống Nhựa thuốc phiện có vị đắng hơi chát; có tác dụng giảm đau, gây ngủ

Hoa tí ngọ, cây thuốc chữa cảm mạo

Thường dùng chữa cảm mạo, Mỗi khi thay đổi thời tiết, sức khoẻ không bình thường, người ta dùng lá và thân cây phơi khô nấu nước uống thay trà

Mái dầm, trị kiết lỵ

loài C.yunnanenses H. Li được dùng trị đòn ngã tổn thương, phong thấp, đau nhức xương, viêm dạ dày ruột cấp tính viêm đa khớp, tay chân rũ mỏi, lưng đùi đau nhức, bệnh cấp tính

Gạt nai, cây thuốc trị bệnh thuỷ đậu

Người ta dùng lá thay thế men để chế biến rượu gạo, Ở Campuchia, người ta dùng vỏ hãm uống để trị bệnh thuỷ đậu

Đỗ trọng nam, cây thuốc hành khí hoạt huyết

Tính vị, tác dụng, Đỗ trọng nam có vị hơi cay, tính bình, có tác dụng hành khí, hoạt huyết, hạ nhiệt, giúp tiêu hoá

Móng ngựa, cây thuốc

Cây mọc ở rừng Bắc Thái, có nhiều ở ven suối và những chỗ ẩm ướt trên dẫy núi Tam Đảo. Có tác giả cho rằng cây mọc ở miền Bắc và miền Trung của nước ta, cũng gặp ở Lào và Campuchia

Gáo không cuống, cây thuốc lọc máu

Gỗ được dùng dưới dạng thuốc sắc hay thuốc hãm cho phụ nữ sinh đẻ uống 3 ngày liền sau khi sinh để lọc máu

Quýt rừng: chữa các bệnh đường hô hấp

Quả ăn được, quả và lá dùng để chữa các bệnh đường hô hấp, dân gian cũng dùng rễ nấu nước uống cho phụ nữ sau khi sinh đẻ

Cò ke quả có lông: cây thuốc trị đau dạ dày

Loài của Trung Quốc, Việt Nam, Inđônêxia, Ở nước ta cây mọc trong rừng thứ sinh vùng trung du miền Bắc qua Quảng Nam Đà Nẵng tới Đồng Nai

Đom đóm, cây thuốc chữa phù

Lá cũng dùng cầm máu như lá cây Vông đỏ, Cây dùng làm thuốc chữa phù, dùng cho phụ nữ uống trong thời gian có mang