- Trang chủ
- Dược lý
- Cây thuốc đông y: y học cổ truyền
- Biến hóa: dùng chữa tê thấp đau nhức
Biến hóa: dùng chữa tê thấp đau nhức
Chữa hen suyễn gặp lạnh lên cơn nghẹt thở, hoặc cảm phong hàn, ngực căng khó thở, ho suyễn kéo đờm, đầu mặt xây xẩm, thân thể nặng nề đau nhức.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Biến Hoá, còn được gọi là Quan Chi, sở hữu tên khoa học Asarum caudigerum Hance và thuộc họ Nam Mộc Hương (Aristolochiaceae). Loài cây mọc lâu năm này được biết đến như một vị thuốc quý với nhiều công dụng hữu ích trong y học cổ truyền.
Đặc điểm
Cây Mọc Bò: Biến Hoá là cây cỏ sống lâu năm, mọc bò và có chiều cao trung bình từ 10 đến 50cm.
Thân Dài: Thân cây có lóng dài từ 7 đến 20cm, tạo sự linh hoạt cho quá trình phát triển.
Lá Tim: Cây có 1-2 lá với phiến hình tim độc đáo, kích thước dài từ 5 đến 15cm. Bề mặt lá phủ đầy lông mịn ở cả hai mặt, tạo cảm giác mềm mại khi chạm vào.
Gân Lá: Gân lá bắt nguồn từ gốc, phân bố thành 6-7 đường rõ rệt, giúp vận chuyển dưỡng chất hiệu quả.
Cuống Lá Dài: Cuống lá mọc đối diện nhau, dài từ 7 đến 15cm, nâng đỡ lá và giúp lá tiếp xúc tốt với ánh sáng mặt trời.
Hoa Vàng Nhạt: Hoa Biến Hoá mang màu vàng nhạt thanh tao, điểm xuyết những vạch màu đỏ nổi bật, thu hút sự chú ý.
Cuống Hoa Dài: Hoa mọc đơn lẻ trên cuống dài 2-3cm, vươn cao khỏi tán lá, khoe sắc rực rỡ.
Bao Hoa Đều: Bao hoa gồm 3 cánh đài, chia thành 3 thuỳ nhọn, đỉnh mỗi thuỳ có đuôi dài tới 1cm, tạo nên nét độc đáo cho hoa.
Nhị Hoa: Hoa có 12 nhị hoa, sắp xếp theo vòng, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thụ phấn.
Bầu Dưới: Bầu hoa nằm ở vị trí dưới cùng của hoa, chia thành 6 ô, chứa đựng nhiều noãn.
Quả Nang: Sau khi thụ phấn, bầu phát triển thành quả nang, khi chín chuyển màu tím tía ấn tượng.
Hạt Nhiều: Bên trong quả chứa nhiều hạt nhỏ, đóng vai trò trong việc sinh sản của cây.
Mùa Hoa Quả: Biến Hoá nở hoa vào tháng 3-4 và cho quả vào tháng 5-6.
Bộ phận dùng làm thuốc
Toàn bộ cây Biến Hoá, bao gồm cả thân, lá và rễ, được sử dụng làm thuốc, thường được gọi là Thổ Tế Tân.
Nơi sống và thu hái
Biến Hoá mọc hoang chủ yếu ở các vùng núi cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh và Vĩnh Phú. Thu hái cây vào cuối mùa đông, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô để bảo quản.
Tính vị và tác dụng
Biến Hoá có vị cay, tính ấm, mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe như:
Tán phong hàn: Giúp cơ thể giải cảm, giảm các triệu chứng như sổ mũi, hắt hơi, ho khan.
Ôn trung hạ khí: Giữ ấm cho cơ thể, hỗ trợ tiêu hóa, giảm các vấn đề về đường tiêu hóa.
Thông khiếu: Giúp thông thoáng các xoang, cải thiện tình trạng nghẹt mũi, viêm xoang.
Kích thích tiết mồ hôi: Giúp hạ sốt, giải độc cơ thể.
Lợi tiểu: Tăng cường chức năng bài tiết nước tiểu, hỗ trợ điều trị các bệnh về thận.
Công dụng, chỉ định và phối hợp
Biến Hoá được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền để điều trị nhiều bệnh lý như:
Tê thấp đau nhức: Giảm đau nhức cơ khớp, hỗ trợ điều trị các bệnh về xương khớp.
Trúng phong hàn co quắp: Giúp thư giãn cơ bắp, giảm co cứng, cải thiện tình trạng tê liệt.
Cảm sốt, ho hen, suyễn thở: Giảm các triệu chứng cảm cúm, ho, khó thở, hỗ trợ điều trị viêm phế quản.
Viêm phế quản: Hỗ trợ điều trị viêm phế quản, giảm ho đờm, long đờm.
Bài viết cùng chuyên mục
Nho lông: dùng chữa viêm phế
Nho Lông, Nho Tía hay Nho Năm Góc là một loại cây nho đặc biệt, được biết đến với những quả nho có hình dáng độc đáo và nhiều công dụng trong y học và ẩm thực.
Giá co: cây thuốc thanh nhiệt mát gan
Lá nấu canh ăn được, Dân gian dùng toàn cây chữa rắn cắn và chữa chân tay co quắp, Ở Trung Quốc có nơi dùng chữa bệnh về gan và phổi.
Cáp vàng: xông khói chữa bệnh
Ở Campuchia, người ta dùng các hoa tươi làm rau ăn. Gỗ nghiền thành bột dùng để xông khói chữa bệnh cho người bị choáng váng.
Chân chim núi đá: dùng làm thuốc trị hậu sản
Dân gian dùng làm thuốc trị hậu sản. Ở Trung Quốc Vân Nam rễ được dùng trị cam tích trẻ em, gân cốt đau nhức
Oa nhi đằng: cây thuốc trị đau gân cốt
Ở Vân Nam dùng trị bệnh lâm, bệnh tràng nhạc, mắt đỏ, bệnh sa nang, sốt rét và lỵ. Ở Hương Cảng, lại còn trị viêm khí quản mạn tính, ho và rắn độc cắn.
Khoai sọ, cây thuốc cầm ỉa
Củ Khoai trồng có bột màu trắng dính, có vị ngọt hơi the, trơn, tính bình, điều hoà nội tạng, Lá Khoai sọ vị cay, tính lạnh, trợn; có tác dụng trừ phiền, cầm ỉa
Bướm bạc: thanh nhiệt giải biểu
Bướm bạc có vị hơi ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải biểu, khai uất, hoà lý, lương huyết, tiêu viêm
Phù dung: dùng trị phổi nóng sinh ho
Thường được dùng trị phổi nóng sinh ho, kinh nguyệt quá nhiều, bạch đới, đau mắt đỏ, dùng ngoài trị mụn nhọt độc đang sưng mủ, đinh râu, viêm tuyến sữa, viêm mũi.
Đậu cộ biên, cây thực phẩm
Loài phân bố rộng ở Đông Phi châu, ở á Châu và châu Đại Dương. Ở nước ta, thường gặp nhất là trong các rừng ở bờ biển và cạnh các rừng ngập mặn
Lòng mang, khư phong, trừ thấp
Tính vị, tác dụng, Vị ngọt, nhạt, tính hơi nóng, có tác dụng khư phong, trừ thấp, dãn cơ, hoạt huyết và thông lạc
Mức lông mềm, trị lao hạch cổ
Ở Trung Quốc, rễ, vỏ thân, lá dùng trị lao hạch cổ, phong thấp đau nhức khớp, đau ngang thắt lưng, lở ngứa, mụn nhọt lở loét, viêm phế quản mạn
Nhót rừng: dùng lá chữa bệnh tràng nhạc
Hoa nhóm thành chùm ngắn ở nách lá, dài 2 đến 3cm; cuống hoa 1,5mm; hoa trắng. Quả nhỏ, vỏ ngoài mọng nước, có lông
Chùm gởi ký sinh: dùng sắc uống làm dịu đau dạ dày
Bụi bán ký sinh, nhánh mảnh, lá mọc đối, phiến xoan hay xoan bầu dục, dài 5 đến 10cm, rộng 3 đến 5cm, có gân không rõ, không lông, đen khi khô.
Bạch cổ đinh: cây thuốc chữa rắn cắn
Ở Ân Độ, người ta dùng toàn cây uống trong và đắp ngoài, làm thuốc chữa vết độc do rắn cắn và các loài bò sát khác cắn.
Mã đề kim: thanh nhiệt tiêu viêm
Mã đề kim là một loài cây thân thảo thuộc họ Khoai lang (Convolvulaceae). Cây có kích thước nhỏ, lá tròn, mọc sát mặt đất, tạo thành một thảm xanh mướt.
Kim vàng, thuốc chữa rắn cắn
Chỉ mới được dùng trong dân gian làm thuốc chữa rắn cắn, cắt cơn suyễn, cảm cúm, ho, thổ huyết, băng huyết, đau nhức răng, tê bại nhức mỏi, bong gân
Lấu ông: cây thuốc
Lấu ông, một loài cây thuộc họ Cà phê, là một loại dược liệu quý giá trong y học cổ truyền. Cây thường được tìm thấy ở các vùng rừng núi và được sử dụng để điều trị nhiều bệnh khác nhau.
Han lình: cây thuốc trừ giun
Công dụng, chỉ định và phối hợp, Lông rất ngứa, nhưng rễ được dùng làm thuốc trừ giun, ỉa ra máu và làm dễ tiêu hoá.
Ô liu: lợi mật và nhuận tràng
Dầu Ôliu dược dụng được sử dụng do các tính chất lợi mật và hơi nhuận tràng, dùng ngoài để làm thuốc dịu, giảm đau để trị một số bệnh ngoài da.
Cáp điền: đắp các vết thương sưng đau do tê thấp
Ở Ân Độ, người ta dùng lá tươi hơ nóng đắp các vết thương sưng đau do tê thấp, cây khô tán thành bột và lẫn với một lượng tương đương hạt.
Hoa tím: cây thuốc long đờm
Rễ cây chứa những saponosid và một alcaloid, odoratin, Hoa làm dịu, làm long đờm và làm ra mồ hôi. Rễ làm long đờm, làm nôn, Lá lợi tiểu, tiêu độc
Ké đầu ngựa, thuốc chữa phong hàn đau đầu
Ké đầu ngựa được dùng chữa phong hàn đau đầu, tay chân đau co rút, phong tê thấp, đau khớp, mũi chảy nước hôi, mày đày, lở ngứa, tràng nhạc
Hồ chi, cây thuốc hoạt huyết thanh nhiệt
Vị ngọt và đắng, tính bình, có tác dụng ích can minh mục, hoạt huyết thanh nhiệt, lợi niệu giải độc, tiêu viêm lợi tiểu, kích thích tiêu hoá, giảm ho, làm long đờm
Keo cao, thuốc cầm máu, giảm đau
Vị đắng chát, tinh hơi hàn, có tác dụng thu liễm cầm máu, giảm đau, sinh cơ, thanh nhiệt, làm ra mồ hôi và long đờm
Chuối hột: sử dụng trị sỏi đường tiết niệu
Người ta thường trồng Chuối hột lấy lá gói bánh tét tốt hơn lá các loài chuối khác, quả xanh dùng ăn chấm nước mắm, mắm tôm, bắp chuối dùng ăn gỏi
