Hương thảo: thuốc tẩy uế

2017-11-27 04:43 PM

Hương thảo có vị chát, nóng, mùi thơm nồng, hơi se, có tính tẩy uế và chuyển máu, dùng với liều thấp, nó gây sự dồn máu ở các cơ quan vùng bụng.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Hương thảo (Rosmarinus officinalis L.) là một loại cây bụi nhỏ thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae), có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải. Cây được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới và được sử dụng phổ biến trong ẩm thực, y học và làm đẹp.

Mô tả

Cây cao 1-2m, phân nhánh và mọc thành bụi.

Lá hẹp, hình dải, dai, mép gập xuống, không cuống, màu xanh sẫm và nhẵn ở mặt trên, phủ lông rải rác màu trắng ở mặt dưới.

Hoa xếp 2-10 ở các vòng lá, dài cỡ 1cm, màu lam nhạt hơi có màu hoa cà với những chấm tím ở phía trong các thuỳ.

Toàn cây có mùi thơm rất đặc trưng.

Mùa hoa tháng 3-5.

Bộ phận dùng

Ngọn cây có hoa và lá, chủ yếu là lá khô.

Tinh dầu chiết xuất từ ngọn cây có hoa.

Nơi sống và thu hái

Cây có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải, được trồng nhiều ở Nam Âu, Tây Á và Bắc Phi.

Ở Việt Nam, hương thảo được trồng ở một số tỉnh miền Trung và miền Nam.

Thu hoạch bằng cách hái các ngọn cây có hoa, phơi hoặc sấy khô, đập lấy lá. Lá tươi cũng được dùng làm gia vị.

Thành phần hóa học

Tinh dầu (0,5% ở cây khô, 1,1-2% ở lá, 1,4% ở hoa) chứa chủ yếu α-pinen (lên đến 80%), terpen, borneol, acetat bornyl, camphor, cineol và một sesquiterpen (caryophyllen).

Choline, glucosid không tan trong nước, saponosid acid, acid hữu cơ (citric, glycolic, glyeeric) và hai heterosid là romaside và romarinoside.

Acid rosmarinic.

Tính vị, tác dụng

Vị chát, nóng, mùi thơm nồng, hơi se.

Có tính tẩy uế, chuyển máu.

Liều thấp: kích thích sự tiết dạ dày và ruột, lợi tiểu.

Liều cao: co thắt, chóng mặt.

Tinh dầu: thông ruột, lợi mật, lợi tiểu.

Acid rosmarinic và flavonoid: chống oxy hóa.

Công dụng, chỉ định và phối hợp

Trong y học

Kích thích tiêu hóa, lợi mật, lợi tiểu.

Chữa ho, cảm cúm, sổ mũi.

Điều trị viêm khớp, thấp khớp, đau nửa đầu.

Chữa rụng tóc, kích thích mọc tóc.

Cải thiện trí nhớ, tăng cường sự tập trung.

Giảm căng thẳng, lo âu, hỗ trợ giấc ngủ.

Trong ẩm thực

Gia vị cho các món thịt, cá, rau củ.

Pha trà thảo mộc.

Làm bánh, kẹo, mứt.

Trong làm đẹp:

Dưỡng da, chống lão hóa.

Trị mụn trứng cá, se khít lỗ chân lông.

Làm tóc bóng mượt, chắc khỏe.

Lưu ý khi sử dụng

Phụ nữ mang thai và cho con bú nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.

Người có bệnh tim mạch, huyết áp cao nên thận trọng khi sử dụng.

Không sử dụng liều cao hoặc kéo dài vì có thể gây tác dụng phụ.

Nên mua hương thảo ở những nơi uy tín để đảm bảo chất lượng.

Tóm lại

Hương thảo là một loại cây thảo mộc quý giá với nhiều công dụng hữu ích cho sức khỏe và sắc đẹp. Tuy nhiên, cần sử dụng đúng cách và liều lượng để đảm bảo an toàn và hiệu quả.

Bài viết cùng chuyên mục

Cốc đá: chế thuốc giảm sốt

Cây gỗ cao 10m, có lá rụng theo mùa; nhánh non màu xám xanh, lá dài 25cm, mang 5 đến 6 cặp lá chét xoan bầu dục, đầu tù, gốc không cân xứng, gân phụ 6 đến 10 cặp

Ca cao: trị phù thũng và cổ trướng

Người ta thường ủ hạt để chế bột ca cao và làm sôcôla, nhân hạt được dùng trị phù thũng và cổ trướng.

Nhàu lông: làm săn da

Loài của các nước Đông Dương, Thái Lan, Ấn Độ, Mianma. Ở nước ta, cây thường mọc ở rừng thưa, rừng còi Tây Nguyên

Mận rừng: trị ghẻ ngứa

Cây mọc hoang trên các đồi cây bụi, trên đất lateritic ở các tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn, Hà Tây, Quảng Ninh, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Ninh Bình. Thu hoạch rễ và vỏ rễ quanh năm.

Cói dùi có đốt: cây được dùng làm thuốc xổ

Loài của Ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia, Philippin, Tân Ghi nê và Việt Nam, Ở nước ta, cây mọc nơi đất bùng dựa rạch và trên các ruộng đồng bằng, có gặp ở Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà

Cỏ cứt lợn: chống viêm chống phù nề

Cây cứt lợn có vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu sưng và cầm máu, cành lá vò ra có mùi hôi gây nôn

Khúng khéng, thuốc thanh nhiệt, lợi tiểu

Cuống quả ngọt và mát được dùng ăn ở Trung quốc và Nhật bản, cuống quả khô và hạt được dùng ở Trung quốc làm thuốc trị ngộ độc rượu

Mạc ca răng, uống cầm ỉa chảy

Quả thường được dùng ăn ở Campuchia, nhưng ít được ưa chuộng. Ở Ân Độ, rễ dùng nấu hay sắc uống để cầm ỉa chảy, ở Campuchia dùng hãm làm thức uống khai vị

Cam thảo dây: tiêu viêm lợi tiểu

Người ta thường dùng dây lá Cam thảo dây để điều hoà các vị thuốc khác, dùng chữa ho, giải cảm, trị hoàng đản do viêm gan siêu vi trùng.

Quặn hoa Yersin: nhựa dùng đắp vết thương

Loài Chonemorpha megacalyx Pierre gặp ở Lào, Trung Quốc mà toàn cây có tác dụng cường gân cốt, bổ thận, hạ áp, được dùng chữa gân cốt đau nhức, thận hư, đau lưng

Hoa cánh giấy: cây thuốc chữa lỵ

Hoa cánh giấy (Zinnia elegans Jacq.) là một loài hoa thuộc họ Cúc, nổi tiếng với những bông hoa rực rỡ sắc màu và cánh hoa mỏng manh như giấy. Cây có chiều cao trung bình, thân cứng cáp, lá đơn, mọc đối.

Đậu mèo lớn, cây thuốc có độc

Ở một số vùng, người ta giã hạt ra làm thuốc kích dục, Còn ở Ân Độ, vỏ được dùng trị đau thấp khớp, giã ra, trộn với gừng khô và đắp trên phần đau

Găng tu hú: cây thuốc điều kinh

Rễ nghiền ra dùng duốc cá, Vỏ rễ và thân hãm uống để điều kinh, Quả dùng nhuộm vàng, lại dùng ngâm lấy nước trừ giun đất và đỉa.

Bằng phi: cây thuốc chữa ỉa chảy

Chỉ gặp ở các đảo ngoài biển một số nơi của nước ta, Ở Nhật Bản, người ta thường dùng làm cây cảnh. Nhân dân thu hái vỏ quanh năm, thường dùng tươi.

Móng rùa: dùng trị bệnh đau thận

Cây của miền Đông dương, mọc hoang ở rừng cùng với Tung hay Lá buôn ở Đồng Nai và nhiều nơi khác vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến tận núi Đài huyện Tịnh Biên, Tỉnh An Giang.

Mộc ký ngũ hùng: nấu nước uống trị ho

Mộc ký ngũ hùng, còn được gọi là tầm gửi năm nhị, với tên khoa học Dendrophthoe pentandra (L.) Miq là một loài thực vật ký sinh thuộc họ Tầm gửi (Loranthaceae). Cây thường bám trên các cây khác như mít, xoài, hồng xiêm.

Báng, cây thuốc bổ

Báng đã được nhân dân ta sử dụng từ thời đại các vua Hùng, Tổ tiên ta đã từng lấy bột trong thân cây và củ để ăn thay cơm

Đước: cây thuốc chữa bệnh khớp

Cây có gỗ cứng nặng, khi còn tươi dễ gia công, dùng đóng đồ mộc và làm trụ mỏ, Ở Campuchia, dân gian thường dùng rễ chữa các bệnh về khớp.

Dùi đục, cây thuốc trị hen suyễn

Vỏ chứa một chất có bản chất glucosidic là hiptagin, Cho tác dụng với các alcalin loãng hay các acid, nó sẽ giải phóng acid cyanhydric Hiptagin cũng có trong rễ

Quyết trăng non ba lá: cây thường dùng trị đòn ngã

Cây mọc rất phổ biến, hầu như ở rừng thứ sinh nào cũng gặp, từ nơi có độ che bóng cao đến ven rừng nơi có nhiều ánh nắng, ở khắp nước ta

Chân chim núi: thuốc trị đau mình mẩy

Thu hái vỏ cây quanh năm, tốt nhất khi sắp ra hoa, cũng chế biến như vỏ các loài Chân chim khác. Lá thu hái quanh năm, dùng tươi

Keo Ả rập: thuốc làm se tạo nhầy

Keo Ả Rập, hay còn gọi là gum arabic, là một chất kết dính tự nhiên được chiết xuất từ nhựa cây Acacia. Nó đã được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau, từ thực phẩm đến dược phẩm.

Nhạ nhầu: nấu uống làm thuốc lợi sữa

Dân gian dùng dây lá nấu uống làm thuốc lợi sữa

A phiện (thuốc phiện): cây thuốc trị ho ỉa chảy đau bụng

Vị chua, chát, tính bình, có độc; có tác dụng liễm phế, sáp trường, chỉ thống Nhựa thuốc phiện có vị đắng hơi chát; có tác dụng giảm đau, gây ngủ

Giâu gia xoan, cây thực phẩm

Quả chín có mùi rượu, thơm, vị chua, ăn được, Hạt chứa tới 34 phần trăm dầu có thể dùng làm xà phòng. Gỗ tốt dùng làm dụng cụ