Nấm sò: thư cân hoạt lạc

2018-04-06 01:03 PM

Nấm sò có mũ nấm hình vỏ sò, màu xám tro đến nâu sẫm, mép mũ thường cong vào trong. Thân nấm ngắn, bám chắc vào gỗ mục.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Nấm sò (Pleurotus ostreatus).

Mô tả

Hình dáng: Nấm sò có mũ nấm hình vỏ sò, màu xám tro đến nâu sẫm, mép mũ thường cong vào trong. Thân nấm ngắn, bám chắc vào gỗ mục.

Kích thước: Mũ nấm có đường kính từ 5-20cm, thân nấm dài khoảng 2-5cm.

Môi trường sống: Nấm sò thường mọc hoang trên các thân cây gỗ mục, gỗ rụng trong rừng hoặc các khu vực ẩm ướt.

Bộ phận dùng

Phần mũ nấm là bộ phận được sử dụng phổ biến nhất trong ẩm thực và y học.

Nơi sống và thu hái

Nấm sò phân bố rộng rãi trên khắp thế giới, bao gồm cả Việt Nam.

Mùa thu hoạch nấm sò thường rơi vào mùa mưa, khi độ ẩm không khí cao.

Thành phần hóa học

Nấm sò chứa nhiều chất dinh dưỡng quý giá như protein, vitamin (B1, B2, D), khoáng chất (kali, sắt) và các hợp chất sinh học có hoạt tính cao như polysaccharides, lectin, ergosterol.

Tính vị và tác dụng

Tính vị: Vị ngọt, tính bình.

Tác dụng:

Thanh nhiệt, giải độc: Giúp cơ thể giải nhiệt, giải độc, đặc biệt hiệu quả với các trường hợp nóng trong, mụn nhọt.

Tăng cường hệ miễn dịch: Các polysaccharides trong nấm sò giúp tăng cường hệ miễn dịch, chống lại các tác nhân gây bệnh.

Hỗ trợ tiêu hóa: Nấm sò giúp cải thiện hệ tiêu hóa, tăng cường khả năng hấp thu chất dinh dưỡng.

Chống ung thư: Một số nghiên cứu cho thấy nấm sò có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.

Giảm cholesterol: Nấm sò giúp giảm lượng cholesterol trong máu, ngăn ngừa các bệnh về tim mạch.

Công dụng và chỉ định

Trong ẩm thực: Nấm sò được sử dụng rộng rãi trong nấu ăn, chế biến thành nhiều món ăn ngon và bổ dưỡng như xào, nấu canh, làm chả...

Trong y học: Nấm sò được sử dụng để hỗ trợ điều trị các bệnh như:

Viêm gan, xơ gan.

Cao huyết áp, mỡ máu.

Tiểu đường.

Ung thư.

Mệt mỏi, suy nhược cơ thể.

Phối hợp

Nấm sò có thể kết hợp với các loại thực phẩm khác như thịt, rau củ để tạo nên những món ăn đa dạng và bổ dưỡng.

Trong y học, nấm sò có thể kết hợp với các loại thảo dược khác để tăng cường hiệu quả điều trị.

Cách dùng

Dùng tươi: Nấm sò tươi có thể được chế biến thành các món ăn ngay lập tức.

Dùng khô: Nấm sò khô có thể được ngâm nước trước khi chế biến.

Dùng làm thuốc: Nấm sò có thể được sử dụng để sắc thuốc hoặc bào chế thành các dạng thuốc khác.

Đơn thuốc

Giải nhiệt, giải độc: Nấm sò 10g, rau má 10g, sắc uống hàng ngày.

Tăng cường sức đề kháng: Nấm sò 15g, kỷ tử 10g, táo đỏ 5 quả, sắc uống hàng ngày.

Lưu ý

Người bị dị ứng với nấm nên tránh sử dụng.

Phụ nữ mang thai và cho con bú nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.

Nên chọn mua nấm sò tươi, sạch, không bị dập nát.

Bài viết cùng chuyên mục

Lấu núi, thuốc đắp vết loét và sưng

Lá nấu lên dùng rửa các vết thương lở loét và chữa đau bụng. Ở Ân Độ, rễ được dùng làm thuốc đắp vết loét và sưng; cũng dùng nấu nước tắm toàn thân khi bị sốt và bị chứng lách to

Bù dẻ, bổ dưỡng hồi phục sức khoẻ

Quả ăn được, có vị chua. Hoa rất thơm. Rễ cũng được dùng nấu nước cho phụ nữ sinh đẻ uống như là thuốc bổ dưỡng để hồi phục sức khoẻ

Đuôi công hoa trắng, cây thuốc khu phong trừ thấp

Rễ có vị đắng, chát và gây nôn, Lá cay, có độc, Có tác dụng khu phong trừ thấp, tán ứ tiêu sưng; còn có thể thư cân hoạt huyết, làm sáng mắt

Đuôi chồn Nam Bộ, cây thuốc lọc máu

Ở Ninh Thuận, người ta sử dụng cây này trong y học dân gian, được xem như có tác dụng lọc máu

Keo đẹp: thuốc long đờm

Cây Keo đẹp (tên khoa học là Acacia concinna) thuộc họ Đậu (Fabaceae) là một loại cây nhỡ leo, thường gặp ở chỗ sáng và bìa rừng của nhiều kiểu rừng, tới độ cao 1400m.

Cáng lò: dùng trị cảm mạo

Cây cáng lò là một loài cây gỗ nhỏ có giá trị kinh tế và dược liệu. Với những đặc điểm sinh thái và thành phần hóa học đặc trưng, cây cáng lò đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Lá buông cao, cây thuốc

Ở Ân Độ, người ta dùng quả giã ra thành bột dùng để duốc cá. Hạt cứng như ngà, dùng làm chuôi, nút áo; thân cho nhiều bột màu nâu

Ngấy nhiều lá bắc: thanh nhiệt lợi thấp

Quả ăn được, có vị của Ngấy dâu. Lá pha nước uống. Rễ được dùng ở Trung Quốc để chữa: cảm mạo phát nhiệt, viêm ruột, lỵ, trĩ, khạc ra máu, chảy máu mũi, phong thấp đau xương, gãy xương.

Cải bẹ: phá huyết tán kết

Ngoài việc dùng lá làm rau nấu canh hay làm dưa ăn, người ta còn dùng lá đắp ngoài trị ung thũng. Rễ củ và hạt được dùng chống bệnh scorbut.

Cách lá rộng, trị phù thũng

Ở Ân Độ, người ta dùng lá làm thuốc uống trong và đắp ngoài trị phù thũng. Nhựa của vỏ cây dùng đắp nhọt đầu đinh

Cỏ đắng: làm thuốc trị bò cạp đốt

Lá dùng làm thức ăn gia súc, thường do cây có lẫn hạt vào nên động vật ăn cỏ ít ăn, ở Ấn Độ, người ta dùng toàn cây làm thuốc trị bò cạp đốt

Cỏ mần trầu: cây thuốc dùng trị cao huyết áp

Thường được dùng trị cao huyết áp, lao phổi, ho khan, sốt âm ỉ về chiều, lao lực mệt nhọc, tiểu tiện vàng và ít một, Còn dùng cho phụ nữ có thai hỏa nhiệt táo bón, buồn phiền, động thai

Ngà voi, đắp chữa sưng tấy

Cây thảo sống nhiều năm, có thân rễ. Lá 5 đến 10, trong một mặt phẳng, hěnh trụ nhọn cao 0,3 đến 1,2m, mŕu xanh đậm có rằn ri, có rãnh cạn hay không

Máu chó: thuốc chữa ghẻ

Hạt có dầu mùi hắc. Khi dùng giã nhỏ, cho thêm ít muối rang đỏ lên rồi ép lấy dầu hoặc giã rồi nấu cho dầu nổi lên mà gạn lấy cũng được.

Cỏ lá xoài: cây thuốc sát trùng vết thương

Chỉ mới được dùng qua kinh nghiệm dân gian, Ở Cần Thơ dùng sát trùng vết thương và dùng xát vết thiến heo cho mau lành, Ở Minh Hải, dùng chữa băng huyết và ở Tiền Giang dùng chữa sưng tấy

Hoa ki: cây thuốc xông cho phụ nữ sau sinh

Công dụng, chỉ định và phối hợp, Nhân dân thường dùng lá cây này xông cho phụ nữ sau khi sinh nở để làm tán huyết.

Duối rừng, cây thuốc cầm máu

Ở Vân Nam Trung Quốc, vỏ cây được dùng trị xuất huyết đường tiêu hoá và đau dạ dày, dùng ngoài trị ngoại thương xuất huyết, gãy xương, đòn ngã tổn thương

Bông vải, dùng hạt để trị lỵ

Ở Ân Độ, người ta dùng hạt để trị lỵ, và có thể làm thuốc bổ phổi. Dầu hạt dùng làm tan các vết chàm và vết tàn nhang ở da

Nhọc đen: cây thuốc trị viêm dạ dày mạn tính

Ở Trung Quốc, rễ được dùng trị viêm dạ dày mạn tính, tỳ vị suy nhược, ăn uống không tiêu, chân tay yếu mỏi, di tinh

Lúa: bồi dưỡng khí huyết

Gạo là thành phần quan trong bữa ăn của nhân dân ta, bồi bổ cho cơ thể và đem lại cân bằng cho cơ thể. Hạt thóc đã ngâm cho nẩy mầm rồi phơi khô gọi là cốc nha.

Mây dang, cây thuốc

Cây mọc ở rừng đồng bằng Bắc Bộ đến Nam Bộ. Gặp nhiều trong rừng thường xanh ở Quảng Ninh, Thừa Thiên và Bà Rịa

Cám trắng: trị cơn đau bụng

Ở Campuchia, người ta ngâm hay hãm vỏ để uống trị các cơn đau bụng hay cơn sỏi

Phi yến: đắp ngoài da điều trị chấy ở tóc

Hạt chứa dầu cố định 39 phần trăm và alcaloid toàn phần là 1 phần trăm, các alcaloid đã biết là ajacine, ajaconine, ajacinine, ajacinoidine và một base tương tự lycoctonine

Quyển bá móc: tác dụng thanh nhiệt giải độc

Thu hái cây quanh năm, dùng tươi hay phơi trong râm, dùng dần, vị đắng, nhạt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, khư thấp lợi niệu, tiêu viêm cầm máu, thư cân hoạt lạc

Dưa lông nhím, cây thuốc lợi sữa

Loài của Trung Quốc và Việt Nam, Ở nước ta, cây mọc ở Lào Cai và Ninh Bình, Thu hái cây và quả vào mùa thu-đông, dùng tươi hay phơi khô