Nấm sò: thư cân hoạt lạc

2018-04-06 01:03 PM

Có thể dùng chế biến các món ăn như xào với lòng lợn, hầm với xương lợn. Nấm sò thuộc loại nấm ăn quý được ưa chuộng.

Nấm sò, Nấm bào ngư, Nấm hương chân ngắn - Pleurotus ostreatus (Jacq. ex Fr.) Quél., thuộc họ Nấm sò - Pleurotaceae.

Mô tả

Mũ nấm lúc đầu lồi lên, khi già mõm nhiều hay ít; mặt mũ nhẵn bóng, mép mũ cuộn vào trong, sau vươn lên. Mũ có màu xám - nâu sẫm tới màu nhạt. Thịt nấm dày, màu trắng. Cuống nấm ngắn, mọc từng cái một, có khi mọc sít nhau gần như chung một gốc; cuống phủ lông mịn hoặc nhẵn, màu nhạt hơn mũ, đôi khi trắng xám (như khía của vỏ sò).

Bộ phận dùng

Thể quả - Pleurotus.

Nơi sống và thu hái

Nấm mọc đơn độc hay dạng lợp ngói chồng lên nhau trên thân cây gỗ. Thường gặp vào mùa xuân, hè, thu ở trong rừng hay ven rừng của nước ta (Hà Nội, Hải Hưng, Thái Bình). Hiện nay được gây trồng nhiều. Nấm sò cũng là loại nấm được gieo trồng nhiều nhất trên khắp thế giới.

Thành phần hoá học

Nấm tươi chứa 90,4% nước, 4% protid, 3,4% glucid, 3,3% vitamin PP, 4mg% vitamin C.

Tính vị, tác dụng

Vị ngọt, tính ấm; có tác dụng thư cân hoạt lạc, truy phong tán hàn, hạ huyết áp, hạ cholesterol, trừ u bướu.

Công dụng

Nấm có mùi thơm hạnh nhân, ăn ngon. Cũng được sử dụng tương tự như Nấm rơm, tuy thịt có dai hơn. Có thể dùng chế biến các món ăn như xào với lòng lợn, hầm với xương lợn. Nấm sò thuộc loại nấm ăn quý được ưa chuộng.

Ở Ấn Độ, người ta giã nấm thành dạng thuốc thêm nước đắp vào lợi răng khi tiết nước bọt nhiều và viêm miệng; còn được dùng làm thuốc uống trong trị lỵ và ỉa chảy, và cũng dùng ngừng xuất huyết.

Ở Trung Quốc, Nấm sò được dùng trị lưng đùi lạnh đau, tay chân yếu mỏi.

Ghi chú

Còn có một loài khác gọi là Nấm sò xám - Pleurotus pulmonarius (Fr.) Quél., thường mọc trên thân cây Dừa, trên gỗ mục, trên bông từ tháng 1 - 10 ở một số nơi vùng đồng bằng Bắc bộ. Cũng dùng như Nấm sò tím.

Bài xem nhiều nhất

A phiện (thuốc phiện), cây thuốc trị ho, ỉa chảy, đau bụng

Vị chua, chát, tính bình, có độc; có tác dụng liễm phế, sáp trường, chỉ thống Nhựa thuốc phiện có vị đắng hơi chát; có tác dụng giảm đau, gây ngủ

Hoa tí ngọ, cây thuốc chữa cảm mạo

Thường dùng chữa cảm mạo, Mỗi khi thay đổi thời tiết, sức khoẻ không bình thường, người ta dùng lá và thân cây phơi khô nấu nước uống thay trà

Mái dầm, trị kiết lỵ

loài C.yunnanenses H. Li được dùng trị đòn ngã tổn thương, phong thấp, đau nhức xương, viêm dạ dày ruột cấp tính viêm đa khớp, tay chân rũ mỏi, lưng đùi đau nhức, bệnh cấp tính

Gạt nai, cây thuốc trị bệnh thuỷ đậu

Người ta dùng lá thay thế men để chế biến rượu gạo, Ở Campuchia, người ta dùng vỏ hãm uống để trị bệnh thuỷ đậu

Đỗ trọng nam, cây thuốc hành khí hoạt huyết

Tính vị, tác dụng, Đỗ trọng nam có vị hơi cay, tính bình, có tác dụng hành khí, hoạt huyết, hạ nhiệt, giúp tiêu hoá

Móng ngựa, cây thuốc

Cây mọc ở rừng Bắc Thái, có nhiều ở ven suối và những chỗ ẩm ướt trên dẫy núi Tam Đảo. Có tác giả cho rằng cây mọc ở miền Bắc và miền Trung của nước ta, cũng gặp ở Lào và Campuchia

Gáo không cuống, cây thuốc lọc máu

Gỗ được dùng dưới dạng thuốc sắc hay thuốc hãm cho phụ nữ sinh đẻ uống 3 ngày liền sau khi sinh để lọc máu

Quýt rừng: chữa các bệnh đường hô hấp

Quả ăn được, quả và lá dùng để chữa các bệnh đường hô hấp, dân gian cũng dùng rễ nấu nước uống cho phụ nữ sau khi sinh đẻ

Cò ke quả có lông: cây thuốc trị đau dạ dày

Loài của Trung Quốc, Việt Nam, Inđônêxia, Ở nước ta cây mọc trong rừng thứ sinh vùng trung du miền Bắc qua Quảng Nam Đà Nẵng tới Đồng Nai

Đom đóm, cây thuốc chữa phù

Lá cũng dùng cầm máu như lá cây Vông đỏ, Cây dùng làm thuốc chữa phù, dùng cho phụ nữ uống trong thời gian có mang