- Trang chủ
- Dược lý
- Cây thuốc đông y: y học cổ truyền
- Nấm sò: thư cân hoạt lạc
Nấm sò: thư cân hoạt lạc
Nấm sò có mũ nấm hình vỏ sò, màu xám tro đến nâu sẫm, mép mũ thường cong vào trong. Thân nấm ngắn, bám chắc vào gỗ mục.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Nấm sò (Pleurotus ostreatus).
Mô tả
Hình dáng: Nấm sò có mũ nấm hình vỏ sò, màu xám tro đến nâu sẫm, mép mũ thường cong vào trong. Thân nấm ngắn, bám chắc vào gỗ mục.
Kích thước: Mũ nấm có đường kính từ 5-20cm, thân nấm dài khoảng 2-5cm.
Môi trường sống: Nấm sò thường mọc hoang trên các thân cây gỗ mục, gỗ rụng trong rừng hoặc các khu vực ẩm ướt.
Bộ phận dùng
Phần mũ nấm là bộ phận được sử dụng phổ biến nhất trong ẩm thực và y học.
Nơi sống và thu hái
Nấm sò phân bố rộng rãi trên khắp thế giới, bao gồm cả Việt
Mùa thu hoạch nấm sò thường rơi vào mùa mưa, khi độ ẩm không khí cao.
Thành phần hóa học
Nấm sò chứa nhiều chất dinh dưỡng quý giá như protein, vitamin (B1, B2, D), khoáng chất (kali, sắt) và các hợp chất sinh học có hoạt tính cao như polysaccharides, lectin, ergosterol.
Tính vị và tác dụng
Tính vị: Vị ngọt, tính bình.
Tác dụng:
Thanh nhiệt, giải độc: Giúp cơ thể giải nhiệt, giải độc, đặc biệt hiệu quả với các trường hợp nóng trong, mụn nhọt.
Tăng cường hệ miễn dịch: Các polysaccharides trong nấm sò giúp tăng cường hệ miễn dịch, chống lại các tác nhân gây bệnh.
Hỗ trợ tiêu hóa: Nấm sò giúp cải thiện hệ tiêu hóa, tăng cường khả năng hấp thu chất dinh dưỡng.
Chống ung thư: Một số nghiên cứu cho thấy nấm sò có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.
Giảm cholesterol: Nấm sò giúp giảm lượng cholesterol trong máu, ngăn ngừa các bệnh về tim mạch.
Công dụng và chỉ định
Trong ẩm thực: Nấm sò được sử dụng rộng rãi trong nấu ăn, chế biến thành nhiều món ăn ngon và bổ dưỡng như xào, nấu canh, làm chả...
Trong y học: Nấm sò được sử dụng để hỗ trợ điều trị các bệnh như:
Viêm gan, xơ gan.
Cao huyết áp, mỡ máu.
Tiểu đường.
Ung thư.
Mệt mỏi, suy nhược cơ thể.
Phối hợp
Nấm sò có thể kết hợp với các loại thực phẩm khác như thịt, rau củ để tạo nên những món ăn đa dạng và bổ dưỡng.
Trong y học, nấm sò có thể kết hợp với các loại thảo dược khác để tăng cường hiệu quả điều trị.
Cách dùng
Dùng tươi: Nấm sò tươi có thể được chế biến thành các món ăn ngay lập tức.
Dùng khô: Nấm sò khô có thể được ngâm nước trước khi chế biến.
Dùng làm thuốc: Nấm sò có thể được sử dụng để sắc thuốc hoặc bào chế thành các dạng thuốc khác.
Đơn thuốc
Giải nhiệt, giải độc: Nấm sò 10g, rau má 10g, sắc uống hàng ngày.
Tăng cường sức đề kháng: Nấm sò 15g, kỷ tử 10g, táo đỏ 5 quả, sắc uống hàng ngày.
Lưu ý
Người bị dị ứng với nấm nên tránh sử dụng.
Phụ nữ mang thai và cho con bú nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
Nên chọn mua nấm sò tươi, sạch, không bị dập nát.
Bài viết cùng chuyên mục
Đa búp đỏ, cây thuốc lợi tiểu
Lá thường dùng để giải cảm cho ra mồ hôi, Tua rễ lợi tiểu mạnh, thường dùng chữa phù nề, cổ trướng do xơ gan, Mủ dùng chữa mụn nhọt
Cóc kèn: dùng chữa sốt rét kinh niên
Cây được dùng chữa sốt rét kinh niên, huyết ứ, đàm ngưng sinh ra thũng trướng, trị ho và kiết lỵ, quả chữa đau răng, bạch đới hạ. Rễ dùng sát trùng vết thương và làm thuốc diệt ruồi
Mộc tiền: trị vết thương sưng đau
Ở Campuchia, người ta dùng phối hợp với các vị thuốc khác để nấu một loại thuốc uống tăng lực và làm thuốc trị sởi.
Cà: chữa các chứng xuất huyết
Cà có vị ngọt, tính lạnh, không độc; có tác dụng chữa nóng lạnh, ngũ tạng hao tổn, tán huyết ứ, tiêu sưng và cầm máu.
Guột cứng, cây thuốc như kháng sinh
Nước chiết lá có tính kháng sinh, Lá cây được sử dụng ở Madagascar làm thuốc trị hen suyễn, Còn thân rễ được sử dụng trong dân gian làm thuốc trị giun
Guồi tây, cây thuốc đắp mụn nhọt
Lá có độc, khi đem hơ nóng, được dùng đắp làm mưng mủ mụn nhọt, Thịt quả trắng, có nhiều dịch, rất thơm, vị chua, dùng ăn ngon
Nam mộc hương, làm thuốc để trị lỵ
Vỏ được sử dụng làm thuốc để trị lỵ và cùng dùng trị bí tiểu tiện; có khi dùng chữa thấp khớp
Đưng mảnh: cây thuốc chữa sốt rét
Loài của Ân Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Campuchia, Thái Lan, Xri Lanca, Inđônêxia, Philippin, Nui Ghinê, Châu Phi, châu Mỹ. Ở nước ta, cây chỉ mọc ở vùng núi.
Bạch chỉ, cây thuốc giảm đau chống viêm
Chữa cảm sốt, sổ mũi, nhức đầu, đau răng phong thấp nhức xương, bạch đới, Thuốc cầm máu trong đại tiện ra máu, chảy máu cam, mụn nhọt, mưng mủ
Chổi đực: dùng trị đau thấp khớp
Lá dùng đắp mụn nhọt để làm vỡ mủ, Người ta dùng lá giã ra lấy dịch để rửa các vết lở loét cũng dùng đắp trị viêm mắt
Nho núi: dùng trị cước khí thuỷ thũng
Ở Trung Quốc được dùng trị Cước khí thuỷ thũng, đòn ngã tổn thương, phong thấp đau lưng chân, mụn nhọt lở ngứa
Hoa giấy, cây thuốc điều hoà khí huyết
Cành lá dùng trị bệnh tiêu huyết. Hoa có thể dùng trị xích bạch đới hạ của phụ nữ và kinh nguyệt không đều
Cải rừng bò lan: cây thuốc
Cải rừng bò lan, hay còn gọi là Hoa tím lông (Viola serpens), là một loài thực vật thuộc họ Hoa tím. Cây thường mọc ở vùng núi cao, có nhiều tác dụng trong y học dân gian.
Ba gạc lá to: cây thuốc chữa tăng huyết áp
Thường dùng điều trị bệnh tăng huyết áp, giảm triệu chứng loạn nhịp tim trong bệnh cường giáp, Dùng ngoài trị ghẻ lở và bệnh ngoài da, nhất là bệnh mẩn ngứa khắp người.
Muồng lông: bổ gân cốt và chữa tê thấp
Cây cũng được dùng như Cốt khí muồng, lấy hạt ngâm rượu uống bổ gân cốt và chữa tê thấp. Cũng dùng chữa lỵ, bí đại tiểu tiện. Lá dùng chữa bệnh ngoài da.
Chua ngút lá thuôn: dùng làm thuốc tẩy giun
Cây bụi leo cao 3 đến 10m, nhánh có lông mịn, màu sét. Lá có phiến thuôn, dài 6 đến 10cm, rộng 2 đến 3cm, gốc tròn hay hình tim, mép gần như nguyên hay có răng thưa, mỏng
Lấu núi, thuốc đắp vết loét và sưng
Lá nấu lên dùng rửa các vết thương lở loét và chữa đau bụng. Ở Ân Độ, rễ được dùng làm thuốc đắp vết loét và sưng; cũng dùng nấu nước tắm toàn thân khi bị sốt và bị chứng lách to
Đậu mèo lớn, cây thuốc có độc
Ở một số vùng, người ta giã hạt ra làm thuốc kích dục, Còn ở Ân Độ, vỏ được dùng trị đau thấp khớp, giã ra, trộn với gừng khô và đắp trên phần đau
Ngũ vị: dùng chữa hen suyễn
Thường dùng chữa hen suyễn, ho lâu, nhiều mồ hôi, ra mồ hôi trộm, di tinh, ỉa chảy kéo dài, bồn chồn mất ngủ.
Lan quạt lá đuôi diều, thuốc trị nhiễm đường niệu
Ở Trung Quốc, cây được dùng trị cảm nhiễm đường niệu, viêm bàng quang, đòn ngã tổn thương, gãy xương, viêm niệu đạo
Mỏ chim, có thể gây sẩy thai
Cây gỗ cao đến 15m, có các nhánh nhỏ. Lá có phiến hình bầu dục, tù hay hơi nhọn ở gốc, có mũi tù và nhọn cứng ở chóp, dạng màng cứng hơi có răng cưa ở mép dài
Cỏ lá tre: cây thuốc thanh nhiệt, tiêu viêm
Cỏ lá tre có vị ngọt, nhạt, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, trừ phiền, lợi tiểu, Là thuốc thanh lương giải nhiệt rất hay, lại còn dùng làm thuốc uống cho mau đẻ.
Nở ngày đất: cây thuốc sắc uống trị ho cảm cúm
Cây có hoa nhỏ, màu trắng hoặc hồng nhạt, mọc thành cụm tròn rất đặc trưng. Loài cây này có khả năng chịu hạn tốt và thường mọc hoang ở các vùng đất trống, ven đường.
Cà độc dược gai tù, ngăn suyễn giảm ho
Cũng dùng như Cà độc dược. Hoa cũng được dùng làm thuốc hút như các loại Cà độc dược khác
Lộc mại lá dài: thuốc nhuận tràng
Loài phân bố ở Ân Độ, Lào, Việt Nam, Philippin, Inđônêxia. Ở nước ta, cây mọc trong rừng thứ sinh, trảng cây bụi hoặc dọc theo khe trũng ở Bắc Thái.
