- Trang chủ
- Dược lý
- Cây thuốc đông y: y học cổ truyền
- Huỳnh xà: thuốc chữa ban
Huỳnh xà: thuốc chữa ban
Huỳnh xà (Davallia denticulata) là một loài dương xỉ thuộc họ Vẩy lợp, khá phổ biến ở nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Huỳnh xà, Vẩy lợp, Ráng đà hoa có răng - Davallia denticulata.
Huỳnh xà (Davallia denticulata) là một loài dương xỉ thuộc họ Vẩy lợp, khá phổ biến ở nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây có hình dáng đặc trưng với thân rễ bò lan và lá xẻ lông chim, thường bám trên các thân cây hoặc đá ẩm.
Mô tả
Thân rễ: Bò lan, phủ đầy vảy màu nâu đen, tạo thành những cụm lá dày đặc.
Lá: Dài 15-30cm, xẻ lông chim 2-3 lần, lá chét hình mác, mép có răng cưa.
Bào tử: Nằm ở mặt dưới của lá, trong các ổ bào tử hình tròn.
Bộ phận dùng
Thân rễ: Là bộ phận thường được sử dụng làm thuốc.
Nơi sống và thu hái
Cây Huỳnh xà thường mọc bám trên các thân cây gỗ mục, đá tảng ở những vùng rừng ẩm ướt. Có thể thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa khô.
Thành phần hóa học
Hiện nay, thành phần hóa học của cây Huỳnh xà chưa được nghiên cứu đầy đủ. Tuy nhiên, giống như các loài dương xỉ khác, cây có thể chứa các hợp chất phenolic, flavonoid và các hợp chất khác có hoạt tính sinh học.
Tính vị và tác dụng
Theo kinh nghiệm dân gian:
Vị hơi đắng, tính mát.
Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, giảm đau.
Công dụng và chỉ định
Theo kinh nghiệm dân gian:
Điều trị các bệnh ngoài da:
Lở loét, mụn nhọt, eczema.
Vết thương do côn trùng cắn.
Hỗ trợ điều trị các bệnh khác:
Viêm gan, vàng da.
Đau nhức xương khớp.
Phối hợp
Thường được kết hợp với các vị thuốc khác để tăng cường hiệu quả điều trị.
Ví dụ: Kết hợp với kim ngân hoa, hoàng bá để trị mụn nhọt.
Cách dùng
Dạng thuốc sắc: Sắc thân rễ khô với nước uống.
Dạng thuốc đắp: Dùng thân rễ tươi giã nát đắp lên vùng da bị tổn thương.
Đơn thuốc
(Cần tham khảo ý kiến của thầy thuốc trước khi sử dụng)
Ví dụ:
Trị mụn nhọt: Huỳnh xà 10g, kim ngân hoa 15g, hoàng bá 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
Trị vết thương: Thân rễ huỳnh xà tươi giã nát, đắp vào vết thương, ngày thay thuốc 2 lần.
Lưu ý
Tính an toàn của cây Huỳnh xà chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Không tự ý sử dụng khi mang thai, cho con bú hoặc có tiền sử dị ứng với các thành phần của cây.
Nên tham khảo ý kiến của thầy thuốc trước khi sử dụng.
Bài viết cùng chuyên mục
Ngải hoa vàng, thanh nhiệt giải thử
Vị đắng, cay, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt giải thử, trừ chưng, triệt ngược, còn có tác dụng lợi tiêu hóa, lợi tiểu
Cói gạo: cây thuốc dùng trị phong thấp gân cốt, tê đau
Thân dùng để lấy sợi; làm giấy, dệt thảm, làm thức ăn gia súc, Toàn cây dùng trị phong thấp gân cốt, tê đau, đòn ngã tổn thương, kinh nguyệt không đều, bế kinh, sỏi niệu
Địa phu, cây thuốc thanh nhiệt lợi thấp
Quả có vị cay, đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, khư phong trừ ngứa, trợ tim và lợi tiểu
Đinh lăng, cây thuốc giải độc bổ huyết
Trong rễ có glucosid, alcaloid, saponin triterpen, tanin, 13 loại acid amin, vitamin B1. Trong thân và lá cũng có nhưng ít hơn
Bạch đàn trắng, cây thuốc chữa ỉa chảy
Khi áp dụng làm chất gây săn trong chảy máu hoặc trường hợp thanh quản bị đau, gôm được trộn lẫn với một lượng tương đương tinh bột
Quýt rừng: chữa các bệnh đường hô hấp
Quả ăn được, quả và lá dùng để chữa các bệnh đường hô hấp, dân gian cũng dùng rễ nấu nước uống cho phụ nữ sau khi sinh đẻ
Gai kim: cây thuốc long đờm ngừng ho
Lá sắc đặc ngậm chữa sâu răng; cành lá sắc uống chữa ho, Ở Ân Độ, dịch lá dùng để rửa và dùng xoa để ngăn ngừa nứt nẻ chân vào mùa mưa.
Lá nước, thuốc trị vết loét bị chai
Ở Campuchia các chồi non được dùng làm rau ăn. Ở Inđônêxia, người ta trồng để lấy hạt. Ở Ân Độ cũng như ở Malaixia, lá dùng đắp trị các vết loét bị chai
Bầu nâu: chữa táo bón
Thịt quả chín thơm, ăn mát, chữa táo bón, lỵ, trị lao và bệnh về gan. Quả chưa chín hay mới chín tới, se, bổ tiêu hoá, dùng trị ỉa chảy.
Cải rừng lá kích: thuốc hạ nhiệt
Cải rừng lá kích (Viola betonicaefolia) còn được gọi là Cây lưỡi cày, thuộc họ Hoa tím (Violaceae). Đây là một cây thảo sống nhiều năm, có nguồn gốc từ vùng núi Việt
Nấm hương: tăng khí lực
Nấm hương có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng làm tăng khí lực, không đói, cầm máu; còn có tác dụng lý khí hoá đàm, ích vị, trợ thực, kháng nham.
Ngấy lá hồng: sắc uống chữa đau bụng
Dùng ngoài trị bỏng lửa và bỏng nước. Nghiền hạt hay lá và hoà với dầu Vừng để bôi. Có nơi người ta dùng nước nấu lá uống để điều trị chứng tim đập nhanh.
Chòi mòi nam: dùng lá hãm uống
Loài đặc hữu của Trung Việt Nam, Nam Việt Nam và Campuchia, Ở Campuchia, nhân dân dùng lá hãm uống xem như là bổ
Hồng hoa: cây thuốc chữa bế kinh đau kinh
Hồng hoa là một loại thảo dược quý giá, từ lâu đã được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền để điều trị các vấn đề về phụ khoa, đặc biệt là các chứng bệnh liên quan đến kinh nguyệt như bế kinh, đau bụng kinh.
Nàng nàng: hành huyết trục ứ
Do mặt dưới lá cũng bạc tương tự như lá Bạc thau nên có nơi gọi là Bạc thau cây và cũng dùng nó chữa bệnh bạch đới, khí hư.
Canhkina: làm thuốc chữa thiếu máu
Vỏ Canhkina dùng làm thuốc chữa thiếu máu, mệt mỏi toàn thân, dưỡng sức, chữa sốt, sốt rét vì nhiễm trùng, lao và đái đường
Qua lâu trứng: thanh nhiệt giải độc hoạt huyết tán ứ
Gốc ở vùng Ấn Độ, Malaixia, phân bố ở Đông Himalaya, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, bán đảo và quần đảo Malaixia, Java và Sumatra, cây mọc ở rừng thứ sinh
Mây dẻo, điều trị bệnh về buồng trứng
Ở Campuchia dân gian dùng làm dây buộc và đan lát. Rễ được dùng trong một chế phẩm để điều trị bệnh về buồng trứng. Quả dùng ăn được
Cỏ cò ke: tinh dầu thơm
Cỏ cò ke, với tên khoa học Pycreus substramineus, là một loài cỏ thuộc họ Cói, nổi bật với thân rễ chứa tinh dầu thơm.
Chong: làm thuốc trị đau bụng
Quả ăn được. Rễ được làm thuốc trị đau bụng Đồng Nai, Vỏ cây được dùng ở Nam Trung Bộ thay chay để ăn với trầu
Lan gấm, thuốc tiêu viêm
Vị ngọt, hơi chát, tính mát, có tác dụng tư âm nhuận phế, làm mát phổi, mát máu sinh tân dịch, tiêu viêm, lọc máu
Lục lạc đỏ: phòng bệnh xơ vữa động mạch
Ở nước ta, cây mọc ở đồng cỏ, dựa rạch, lùm bụi vùng đồng bằng cho tới độ cao 500m từ Nam Hà, Ninh Bình, Thanh Hoá tới Bà Rịa.
Mắm: cây dùng trị bệnh ngoài da
Nhân dân thường dùng để trị bệnh ngoài da và chủ yếu là trị ghẻ. Ở nhiều nước châu Mỹ, vỏ mắm dùng chữa bệnh phong dưới dạng cao lỏng hay cao mềm.
Cỏ cứt lợn: chống viêm chống phù nề
Cây cứt lợn có vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu sưng và cầm máu, cành lá vò ra có mùi hôi gây nôn
Chan chan: xông hơi để trị sưng phồng cẳng chân
Cây mọc phổ biến ở Nam Trung Bộ, trong các rừng còi từ Khánh Hoà đến Ninh Thuận. Còn phân bố ở Campuchia, Thái Lan.
