Theo dõi bệnh nhân thở máy

Ngày: 6/19/2012 10:45:16 PM

By member of dieutri.vn

Theo dõi bệnh nhân là quan trọng nhất vì tất cả mọi cố gắng của bác sỹ kể cả cho bệnh nhân thở máy cũng chỉ nhằm tới mục tiêu là ổn định và dần dần cải thiện tình trạng bệnh nhân.

Theo dõi bệnh nhân thở máy là một công việc thường ngày của các bác sỹ và nhân viên y tá làm viêc tại các khoa Điều trị Tích cực. Theo dõi bệnh nhân thở máy thực tế là theo dõi hoạt động của máy thở và đáp ứng của bệnh nhân với thở máy. Giữa bệnh nhân và máy thở trong thở máy bao gồm 3 phần: bệnh nhân, hệ thống dây máy thở nối máy thở với bệnh nhân (bao gồm cả nội khí quản hoặc mở khí quản), và máy thở. Do vậy khi theo dõi bệnh nhân thở máy ta phải tiến hành theo dõi cả 3 phần này.

Theo dõi bệnh nhân

Theo dõi bệnh nhân là quan trọng nhất vì tất cả mọi cố gắng của bác sỹ kể cả cho bệnh nhân thở máy cũng chỉ nhằm tới mục tiêu là ổn định và dần dần cải thiện tình trạng bệnh nhân. Trong các thông số về bệnh nhân các thông số cơ bản về dấu hiệu sống (vital signs) được theo dõi liên tục còn các thông số khác được theo dõi định kỳ.

Dấu hiệu sống

Dấu hiệu sống bao gồm: mạch, huyết áp, nhịp thở, SpO2, nhiệt độ và mầu sắc da. Các dấu hiệu sống ngày này có thể được theo dõi liên tục bằng các máy theo dõi tại giường hoặc trung tâm. Các thay đổi trong giá trị của dấu hiệu sống cho chúng ta thông tin sơ bộ về tình trạng ôxy hoá máu (nhịp thở, mầu sắc da và SpO2), tình trạng hệ tuần hoàn (nhịp tim, huyết áp), và tình trạng nhiễm trùng (nhiệt độ). Khi các giá trị của dấu hiệu sống thay đổi tới mức nguy hiểm, máy sẽ báo động tức thì, tuy nhiên chúng ta vẫn phải theo dõi theo giờ (30 phút, 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ....) để theo dõi xu hướng thay đổi của các giá trị này và có được các quyết định sớm, kịp thời.

Khám phổi bệnh nhân đang thông khí nhân tạo

Đối với các bệnh nhân thở máy, việc khám phổi là bắt buộc và phải làm ít nhất ngày 2 lần. Khi khám phổi (bằng nhìn, sờ, gõ, nghe) bệnh nhân đang thông khí nhân tạo chúng ta có thể phát hiện thấy biến chứng của TKNT (tràn khí màng phổi: rì rào phế nang giảm hoặc mất, gõ vang, mất RRPN ở bệnh nhân có suy hô hấp đang thở máy và áp lực đường thở cao; tràn khí dưới da: khi sờ thấy lép bép dưới da; ứ đọng đờm dãi khi nghe thấy ran ứ đọng...), hoặc tình trạng tiến triển của bệnh (ran nổ, ran ẩm, ran rít và ngáy, giảm hoặc mất RRPN...)

Ngoài khám phổi bệnh nhân, chúng ta còn phải đánh giá hoạt động của cơ hô hấp. Việc bệnh nhân sử dụng cơ hô hấp hoặc có nhịp thở nghịch thường đồng nghĩa với việc có tăng công hô hấp. Đối với bệnh nhân đang thở máy, thì ngoài các nguyên nhân tắc đường thở (do đờm, nước, dị vật...) thì dấu hiệu thở nghịch thường hoặc thở có dùng các cơ hô hấp phụ thường gặp trong các bệnh nhân thở A/C mà mức trigger hoặc dòng khí thở vào không đủ, còn đối với các bệnh nhân thở  SIMV, hoặc CPAP không được hỗ trợ đầy đủ

Khám bụng

Đối với các bệnh nhân đang thở máy, bụng chướng rất thường gặp và luôn làm cản trở thông khí nhân tạo cơ học. Do đó nếu phát hiện sớm chúng ta có thể dùng các biện pháp như đặt sonde dạ dày, hậu môn hoăc dùng các thuôc tăng nhu động ruột (primperal, progstigmin, erythromycin...).

Cơ học phổi

Chúng ta có thể theo dõi diễn biến cơ học phổi của bệnh nhân bằng cách đo các thông số áp lực,  thể tích trên máy thở. Chúng ta có thể đo được áp lực đỉnh đường thở (PIP), áp lực cao nguyên (Pplat), áp lực dương cuối thì thở ra (PEEP), áp lực trung bình đường thở (MAP), áp lực thấp nhất (Pmin). Về thể tích chúng ta có thể đo được các thông số như Vt thở ra (Vte), Vt thở vào (Vti), thông khí phút (MV)...Từ các thông số trên chúng ta có thể tính được độ giãn nở của phổi (compliance)...Một số máy có thể tính được sức cản đường thở.....Việc theo dõi các thông số về cơ học phổi giúp người bác sỹ lâm sàng có thể đánh giá được tình trạng bệnh nhân và đánh giá được hiệu quả của qáu trình thở máy.

Khác:

Ngoài các công việc theo dõi như trên, chúng ta còn phải tiến hành theo dõi CVP và tình trạng cân bằng dich của bệnh nhân nếu có điều kiện. Đối với bệnh nhân thở mày, luôn có áp lực dương trong lồng ngực nên làm cho giảm tuần hoàn trờ về (hồi lưu tĩnh mạch). Do vậy thường các bệnh nhân này ngay sau khi thở máy thường được bù thêm một lượng dịch tuỳ thuộc vào tình trạng lâm sàng.

Theo dõi hệ thống dây máy thở

Máy thở được nối với bệnh nhân thông qua hệ thống dây máy thở. Hệ thống dây máy thở phải kín và thông thoáng để đảm bảo máy thở hoạt động tốt nhất trong việc hỗ trợ hô hấp cho bệnh nhân.

Mỗi ngày ít nhất 1 lần, các bác sỹ hồi sức hoạc các y tá khoa Điều trị Tích cực phải kiểm tra hệ thống dây thở 1 lần, nhằm phát hiện các lỗ rò khí trên đường dây máy thở. Một số máy thở có hệ thống theo dõi rò rỉ khí nên sẽ tự động báo cho bác sỹ biết thông qua các thiết bị ngoại vị như màn hình, ô hiện thị hoặc các đèn báo động...Tuy vậy, một số máy thở không có hệ thống theo dõi này nên bắt buộc các bác sỹ phải có lưu tốc kế (Wright spirometer) để kiểm tra hoạt động của máy. Một các khác, các bác sỹ có thể làm là kiểm tra áp lực đẩy vào của máy.(xin xem thêm trên lâm sàng).

Trong hệ thống dây thở còn một phần quan trọng là nội khí quản (NKQ) hoặc mở khí quản (MKQ). Đối với bộ phận này chúng ta phải theo dõi vị trí của NKQ và MKQ. Nếu NKQ vào sâu sẽ thường chui vào bên phải, hoặc tụt ra ngoài gây hở...Đối với NKQ và MKQ chúng ta còn phải theo dõi bóng chèn (cuff) để duy trì áp lực từ 18-22 mmHg cũng như sự thông thoáng của NKQ và MKQ (tắc đờm)

Theo dõi máy thở 

Máy thở là một thiết bị hỗ trợ sự sống tinh xảo. Việc vận hành máy thở luôn luôn đi kèm việc theo dõi hoạt động của máy để kịp thời phát hiện các hỏng hóc cũng như đánh giá hiệu quả của quá trình thở máy.

Theo dõi máy thở, người thầy thuốc lâm sàng phải kiểm tra các thông số đã được đặt: (1) thông số về thở máy: mode thở, Vt, tần số thở, thời gian thở vào hoặc I/E hoặc peak flow, FiO2, PEEP; (2) thông số về báo động: PIP, Pmin, low Vte, low MV, tần số cao, low PEEP; và (3) các thông số về cơ học phổi (xem trên).

Đối với người thầy thuốc lâm sàng, việc theo dõi phát hiện sự cố của máy thở chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra điện nguồn, hoạt động của pin sạc, các dây khí nén....Khi máy báo hỏng hoặc bào không hoạt động (inop) hoặc mở van an toàn (safety valve open) chúng ta phải thay máy thở khác và đưa máy này đi bảo dưỡng.