Gánh nặng đột quỵ sẽ giảm khi huyết áp được kiểm soát tối ưu

2018-01-14 10:45 AM
Với tần suất mắc cao nhưng không được nhận biết và kiểm soát tốt, tăng huyết áp đã góp phần làm tăng thêm gánh nặng bệnh tật do đột qụy ở Việt Nam

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Đột quỵ - Biến cố nghiêm trọng đe dọa tính mạng hàng đầu hiện nay

Đột qụy là nguyên nhân đứng hàng thứ 2 gây tử vong, và là nguyên nhân đứng hàng thứ 3 làm giảm chất lượng cuộc sống thể hiện qua giảm số năm sống còn điều chỉnh theo mức độ bệnh tật (DALY - disability-adjusted life-years) trên thế giới.

Theo thống kê từ nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật, Tổn thương và Yếu tố Nguy cơ Toàn cầu 2010 (GBD 2010), so với năm 1990, tuy tỷ lệ tử vong do đột qụy đã giảm, nhưng số bệnh nhân bị đột qụy (16.9 triệu mắc mới, 33 triệu đang sống và 5.9 triệu tử vong) và giảm DALY (102 triệu) vẫn còn rất lớn và đang gia tăng.

Phần lớn gánh nặng của đột qụy trên thế giới đến từ các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình (chiếm 68.6% đột qụy mới mắc, 52.2% đột qụy đang lưu hành, 70.9% tử vong do đột qụy và 77.7% DALY giảm).

Là một trong các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do đột qụy ở Việt Nam cũng đang có chiều hướng gia tăng. Năm 2013, bệnh mạch máu não, đặc biệt là đột qụy, đã là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại nước ta

Đáng lưu ý là đột qụy do xuất huyết tại Việt Nam hiện chiếm tỷ lệ khá cao. Đây lại là chỉ dấu mạnh mẽ cho tử vong ở bệnh nhân đột qụy.

Theo thống kê tại Bệnh viện Đà Nẵng trên 754 bệnh nhân nhập
viện do đột qụy từ 03/2010 đến 02/2011, 50% trường hợp đột qụy là do xuất huyết, trong đó 51.0% bệnh nhân đã tử vong sau 28 ngày theo dõi. Trong khi đó, tỷ lệ tử vong này ở bệnh nhân đột qụy do thiếu máu chỉ có 20.3%.

Thống kê trên 376 bệnh nhân đột qụy tử vong tại Trung tâm
Đột qụy ở Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108 từ 01/2003 đến 06/2012 cũng cho kết quả tương tự. 52.9% là do xuất huyết và 33.0% là do thiếu máu và 14.1% là do dị dạng mạch. Trong đó, tỷ lệ tử vong trong 3 ngày đầu ở nhóm đột qụy do xuất huyết là 45.8% so với 18.5% ở nhóm đột qụy do thiếu máu.

Tăng huyết áp - Yếu tố nguy cơ làm tăng tần suất đột qụy tại Việt Nam

Tăng huyết áp có liên quan nhiều nhất đến các bệnh lý tim mạch và là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây tử vong do tim mạch.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2010 có ít nhất 9.4 triệu người tử vong/năm và 7% gánh nặng bệnh tật (đo bằng DALY) là do tăng huyết áp gây ra.

Trong thời gian qua, với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng, lối sống và chế độ ăn uống của chúng ta đã có nhiều thay đổi. Theo đó, các bệnh lý tim mạch, đặc biệt là tăng huyết áp đã trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng lo ngại ở Việt Nam.

Hơn 1/3 các biến cố liên quan đến mạch máu não (gồm xuất huyết nội sọ, tai biến mạch máu não hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua) ở Việt Nam đều có liên quan đến tăng huyết áp.

Tần suất cao của đột qụy, đặc biệt là đột qụy do xuất huyết, ở Việt Nam nêu trên có một phần không nhỏ là do phần lớn bệnh nhân tăng huyết áp Việt Nam không biết mình bị tăng huyết áp hoặc không kiểm soát được huyết áp. Theo một nghiên cứu được thực hiện trên 8 tỉnh thành ở Việt Nam với cỡ mẫu gồm 9.832 người trưởng thành ≥ 25 tuổi, tần suất tăng huyết áp ở Việt Nam là 25.1%. Trong đó, có đến 48.4% bệnh nhân biết mình bị tăng huyết áp, 29.6% được điều trị và chỉ có 10.7% kiểm soát đượchuyết áp đạt mục tiêu (< 140/90 mmHg).

Với tần suất mắc cao nhưng không được nhận biết và kiểm soát tốt, tăng huyết áp đã góp phần làm tăng thêm gánh nặng bệnh tật do đột qụy ở Việt Nam.

Kiểm soát huyết áp trung bình liệu đã đủ để phòngngừa đột qụy?

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy kiểm soát tốt huyết áp sẽ giúp làm giảm đáng kể nguy cơ đột qụy. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Howard G và cộng sự trên 26.875 người trưởng thành > 45 tuổi, nguy cơ đột qụy của bệnh nhân bị tăng huyết áp vẫn không thể trở về như người không bị tăng huyết áp dù huyết áp đã được kiểm soát về mức bình thường bằng thuốc sau 6.3 năm theo dõi. Không những thế, bệnh nhân càng phải dùng nhiều thuốc kiểm soát huyết áp để đạt huyết áp mục tiêu thì nguy cơ bị đột qụy của họ càng tăng.

Một phân tích gộp từ 13 nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng trên 49,296 bệnh nhân tăng huyết áp cao tuổi (> 65 tuổi) cũng cho kết quả tương tự. Nguy cơ đột qụy của bệnh nhân trong phân tích này vẫn cao hơn so với nguy cơ bị nhồi máu cơ tim (nguy cơ tương đối [RR] 1.70, p < 0.00001), dù bệnh nhân đã được kiểm soát huyết áp tích cực và đạt mức 136-159/68-85 mmHg.

Có nhiều lý do được đưa ra để giải thích cho nguy cơ đột qụy vẫn còn cao ở các bệnh nhân đả kiểm soát được huyết áp trung bình. Một trong số đó có thể là do huyết áp của bệnh nhân dao động nhiều, dù huyết áp trung bình của họ đã đạt mục tiêu.

Trong nghiên cứu của Rothwell PM và cộng sự, biến thiên huyết
áp tâm thu giữa các lần thăm khám là một yếu tố dự báo mạnh mẽ cho nguy cơ đột qụy, và độc lập với huyết áp trung bình.

Kết quả của nghiên cứu ALLHAT (Antihypertensive and
Lipid-Lowering Treatment to Prevent Heart Attack Trial) với cỡ mẫu > 25,000 bệnh nhân tăng huyết áp cũng cho thấy bệnh nhân có biến thiên huyết áp tâm thu giữa các lần thăm khám càng nhiều thì nguy cơ đột qụy càng tăng. Sau khi đã điều chỉnh theo huyết áp trung bình, tỷ số nguy cơ HR đột qụy ở nhóm có huyết áp dao động nhiều nhất (≥ 14 mmHg)so với  nhóm có dao động ít nhất (< 6.5 mmHg) là 1.46 (khoảng tin cậy 95% 1.06 - 2.01).

Qua đó có thể thấy rằng, bệnh nhân tăng huyết áp vẫn không thể loạitrừ hoàn toàn nguy cơ đột qụy dù huyết áp trung bình của họ đã đạt mục tiêu.

Bài viết cùng chuyên mục

Các triệu chứng của bệnh gan

Sao lưu độc gan thực hiện các công việc hàng ngày của nó. Ngoài ra, các độc tố trong máu dễ dàng tích hợp vào não và tuyến nội tiết gây ra những vấn đề hệ thống thần kinh trung ương và sự mất cân bằng hormone.

Quy trình khử khuẩn máy thở

Máy thở gồm 2 phần chính: phần thân máy và phần đường thở nối máy với bệnh nhân. Giữa 2 hệ thống này có các filter lọc khuẩn ngăn cách. Do vậy khi tiến hành côn gtác khử khuẩn máy thở chúng ta chỉ cần khử khuẩn hệ thống đường thở.

Hướng dẫn chăm sóc bệnh nhân thở máy

Theo dõi tình trạng lâm sàng và SpO2 trong khi hút: nếu Bn xuất hiện tím hoặc SpO2 tụt thấp <85-90% phải tạm dừng hút: lắp lại máy thở với FiO2 100% hoặc bóp bóng oxy 100%.

Sổ rau thường

Sổ rau là giai đoạn thứ 3 của cuộc chuyển dạ, tiếp theo sau giai đoạn mở cổ tử cung và giai đoạn sổ thai. Nếu 2 giai đoạn trước diễn ra bình thường thì tiên lượng của sản phụ lúc này phụ thuộc vào diễn biến của giai đoạn này.

Chức năng đầy đủ của gan

Gan có nhiều vai trò thiết yếu trong việc giữ cho chúng ta sống.

Thông khí nhân tạo điều khiển ngắt quãng đồng thì (SIMV)

Trước đây là một phương thức thở được sử dụng nhiều, kể cả trong cai thở máy. Tuy nhiên kết quả của các nghiên cứu gần đây không ủng hộ việc sử dụng phương thức này trong cai thở máy.

Khái niệm về thông khí nhân tạo trong điều trị tích cực

Đảm bảo thay thế chức năng của phổi: PaO2, PaCO2, pH phải thay đổi tuỳ theo từng tình trạng bệnh lí, từng chỉ định thở máy.

Tiến sỹ Bác sỹ Trần Văn Phú: Từ khởi đầu đến vai trò tác giả y học

Từ những ca bệnh cấp tính, ông tích luỹ không chỉ kinh nghiệm xử trí kỹ thuật mà còn nhận ra nhu cầu hệ thống hoá kiến thức để truyền lại một cách dễ áp dụng cho đồng nghiệp và học trò.

Quá liều thuốc chống đông

Protamin sulfat hình thành một phức hợp heparin-protamin và trung hoà tác dụng chống động của heparin. Protamin trung hoà heparin trong vòng 5 phút.

Chăm sóc bệnh nhân xơ gan

Theo dõi sát tình trạng ý thức, đặc biệt trong các trường hợp có nhiều nguy cơ hôn mê gan: nôn,ỉa chảy, xuất huyết tiêu hoá, nhiễm khuẩn, dùng thuốc độc gan.

Liệu pháp insulin trong điều trị đái tháo đường týp 2

Do tỷ lệ người cao tuổi mắc đái tháo đường týp 2 là phổ biến, thời gian mắc bệnh kéo dài, nhiều bệnh đi kèm, nguy cơ hạ đường huyết cao khi áp dụng khuyến cáo

Tổng quan về hội chứng mạch vành cấp

Hình thành mảng xơ vữa động mạch là kết quả của một quá trình sinh bệnh học kéo dài, mà thường bắt đầu vào giai đoạn sớm ở tuổi trưởng thành

Đặc điểm giải phẫu sinh lý động mạch vành

Hai động mạch vành được tách ra từ động mạch chủ lên bởi 2 lỗ ở khoảng 1/3 trên của các xoang Valsalva, ngay phía dưới bờ tự do của lá van tổ chim tương ứng, ở thì tâm thu.

Quy trình kỹ thuật thở ô xy

Tất cả các bệnh nhân thở Oxy phải làm ẩm khộng khí thở vào để đảm bảo tối ưu chức năng của nhung mao tiết nhầy đường hô hấp, đồng thời đảm bảo độ ấm.

Phòng bệnh phụ khoa: Dung dịch vệ sinh phụ nữ tốt nhất

Đây là kết quả được thông báo tại lễ công bố Sản phẩm đạt chứng nhận Tin và Dùng 2010 vừa diễn ra tại Khách sạn Melia-Hà Nội

Dung dịch vệ sinh phụ nữ nổi tiếng số 1 năm 2012

Ngày 10/11/2012, lễ công bố “Sản phẩm đạt chứng nhận Tin & Dùng năm 2011 – 2012” được tổ chức tại Grand Plaza Sài Gòn.

Các phác đồ kiểm soát đường huyết trong hồi sức cấp cứu

Tiêm tĩnh mạch insulin loại tác dụng nhanh khi kết quả xét nghiệm đường huyết mao mạch lớn hơn 11 mmol trên lít, liều bắt đầu là 5 hoặc 10 đơn vị.

Các thách thức khi viết sách y học tại Việt Nam

Từ thực tiễn biên soạn và xuất bản các giáo trình, cẩm nang lâm sàng, có thể nhận diện ba nhóm thách thức lớn: biên tập học thuật, minh họa y khoa và cập nhật kiến thức.

Xử trí tăng Kali máu

Các triệu chứng tim mạch: rối loạn nhịp nhanh. ngừng tim; chúng thường xảy ra khi tăng kali máu quá nhanh hoặc tăng kali máu kèm với hạ natri máu, hạ magne máu, hay hạ calci máu.

Chăm sóc bệnh nhân tai biến mạch não

Tai biến mạch não, là dấu hiệu phát triển nhanh chóng trên lâm sàng, của một rối loạn khu trú chức năng của não kéo dài trên 24giờ

GIẢM NGỨA HỌNG VÀ HO DO THỜI TIẾT

Vùng họng là nơi nhạy cảm, dễ bị kích thích bên ngoài tác động. Hiện tượng kích ứng vùng họng hay gặp nhất là ngứa họng, ho, khản tiếng...Ngứa họng là cảm giác khó chịu đầu tiên tại vùng họng khi có kích thích.

Thủ thuật Helmlich

Là thủ thuật dùng tay người cứu hộ gây một áp lực mạnh trong đường dẫn khí để đẩy một dị vật gây tắc khí quản ra khỏi đường hô hấp trên.

Mất đồng bộ cơ tim ở bệnh nhân tăng huyết áp

Trong hoạt động điện học, do sự bất thường của xung động, và sự dẫn truyền, trình tự hoạt động điện học của cơ tim mất sinh lý, và mất đồng bộ

MERS

Lần đầu tiên xuất hiện MERS ở bán đảo Ả Rập năm 2012. Bắt đầu từ giữa tháng ba năm 2014, có sự gia tăng đáng kể về số lượng các trường hợp MERS báo cáo trên toàn thế giới

Cấp cứu ban đầu nội khoa - Ôn thi chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh

Cấp cứu ban đầu nội khoa là định hướng rõ ràng cho mục tiêu ôn thi Chứng chỉ hành nghề. Nội dung sách được xây dựng bám sát những yêu cầu cốt lõi của năng lực hành nghề, nhấn mạnh các tình huống cấp cứu thường được sử dụng trong đề thi và trong thực hành thực tế.