- Trang chủ
- Thông tin
- Thông tin y học tiếng Việt
- Gánh nặng đột quỵ sẽ giảm khi huyết áp được kiểm soát tối ưu
Gánh nặng đột quỵ sẽ giảm khi huyết áp được kiểm soát tối ưu
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Đột quỵ - Biến cố nghiêm trọng đe dọa tính mạng hàng đầu hiện nay
Đột qụy là nguyên nhân đứng hàng thứ 2 gây tử vong, và là nguyên nhân đứng hàng thứ 3 làm giảm chất lượng cuộc sống thể hiện qua giảm số năm sống còn điều chỉnh theo mức độ bệnh tật (DALY - disability-adjusted life-years) trên thế giới.
Theo thống kê từ nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật, Tổn thương và Yếu tố Nguy cơ Toàn cầu 2010 (GBD 2010), so với năm 1990, tuy tỷ lệ tử vong do đột qụy đã giảm, nhưng số bệnh nhân bị đột qụy (16.9 triệu mắc mới, 33 triệu đang sống và 5.9 triệu tử vong) và giảm DALY (102 triệu) vẫn còn rất lớn và đang gia tăng.
Phần lớn gánh nặng của đột qụy trên thế giới đến từ các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình (chiếm 68.6% đột qụy mới mắc, 52.2% đột qụy đang lưu hành, 70.9% tử vong do đột qụy và 77.7% DALY giảm).
Là một trong các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do đột qụy ở Việt Nam cũng đang có chiều hướng gia tăng. Năm 2013, bệnh mạch máu não, đặc biệt là đột qụy, đã là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại nước ta
Đáng lưu ý là đột qụy do xuất huyết tại Việt Nam hiện chiếm tỷ lệ khá cao. Đây lại là chỉ dấu mạnh mẽ cho tử vong ở bệnh nhân đột qụy.
Theo thống kê tại Bệnh viện Đà Nẵng trên 754 bệnh nhân nhập
viện do đột qụy từ 03/2010 đến 02/2011, 50% trường hợp đột qụy là do xuất huyết, trong đó 51.0% bệnh nhân đã tử vong sau 28 ngày theo dõi. Trong khi đó, tỷ lệ tử vong này ở bệnh nhân đột qụy do thiếu máu chỉ có 20.3%.
Thống kê trên 376 bệnh nhân đột qụy tử vong tại Trung tâm
Đột qụy ở Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108 từ 01/2003 đến 06/2012 cũng cho kết quả tương tự. 52.9% là do xuất huyết và 33.0% là do thiếu máu và 14.1% là do dị dạng mạch. Trong đó, tỷ lệ tử vong trong 3 ngày đầu ở nhóm đột qụy do xuất huyết là 45.8% so với 18.5% ở nhóm đột qụy do thiếu máu.
Tăng huyết áp - Yếu tố nguy cơ làm tăng tần suất đột qụy tại Việt Nam
Tăng huyết áp có liên quan nhiều nhất đến các bệnh lý tim mạch và là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây tử vong do tim mạch.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2010 có ít nhất 9.4 triệu người tử vong/năm và 7% gánh nặng bệnh tật (đo bằng DALY) là do tăng huyết áp gây ra.
Trong thời gian qua, với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng, lối sống và chế độ ăn uống của chúng ta đã có nhiều thay đổi. Theo đó, các bệnh lý tim mạch, đặc biệt là tăng huyết áp đã trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng lo ngại ở Việt Nam.
Hơn 1/3 các biến cố liên quan đến mạch máu não (gồm xuất huyết nội sọ, tai biến mạch máu não hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua) ở Việt Nam đều có liên quan đến tăng huyết áp.
Tần suất cao của đột qụy, đặc biệt là đột qụy do xuất huyết, ở Việt Nam nêu trên có một phần không nhỏ là do phần lớn bệnh nhân tăng huyết áp Việt Nam không biết mình bị tăng huyết áp hoặc không kiểm soát được huyết áp. Theo một nghiên cứu được thực hiện trên 8 tỉnh thành ở Việt Nam với cỡ mẫu gồm 9.832 người trưởng thành ≥ 25 tuổi, tần suất tăng huyết áp ở Việt Nam là 25.1%. Trong đó, có đến 48.4% bệnh nhân biết mình bị tăng huyết áp, 29.6% được điều trị và chỉ có 10.7% kiểm soát đượchuyết áp đạt mục tiêu (< 140/90 mmHg).
Với tần suất mắc cao nhưng không được nhận biết và kiểm soát tốt, tăng huyết áp đã góp phần làm tăng thêm gánh nặng bệnh tật do đột qụy ở Việt Nam.
Kiểm soát huyết áp trung bình liệu đã đủ để phòngngừa đột qụy?
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy kiểm soát tốt huyết áp sẽ giúp làm giảm đáng kể nguy cơ đột qụy. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Howard G và cộng sự trên 26.875 người trưởng thành > 45 tuổi, nguy cơ đột qụy của bệnh nhân bị tăng huyết áp vẫn không thể trở về như người không bị tăng huyết áp dù huyết áp đã được kiểm soát về mức bình thường bằng thuốc sau 6.3 năm theo dõi. Không những thế, bệnh nhân càng phải dùng nhiều thuốc kiểm soát huyết áp để đạt huyết áp mục tiêu thì nguy cơ bị đột qụy của họ càng tăng.
Một phân tích gộp từ 13 nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng trên 49,296 bệnh nhân tăng huyết áp cao tuổi (> 65 tuổi) cũng cho kết quả tương tự. Nguy cơ đột qụy của bệnh nhân trong phân tích này vẫn cao hơn so với nguy cơ bị nhồi máu cơ tim (nguy cơ tương đối [RR] 1.70, p < 0.00001), dù bệnh nhân đã được kiểm soát huyết áp tích cực và đạt mức 136-159/68-85 mmHg.
Có nhiều lý do được đưa ra để giải thích cho nguy cơ đột qụy vẫn còn cao ở các bệnh nhân đả kiểm soát được huyết áp trung bình. Một trong số đó có thể là do huyết áp của bệnh nhân dao động nhiều, dù huyết áp trung bình của họ đã đạt mục tiêu.
Trong nghiên cứu của Rothwell PM và cộng sự, biến thiên huyết
áp tâm thu giữa các lần thăm khám là một yếu tố dự báo mạnh mẽ cho nguy cơ đột qụy, và độc lập với huyết áp trung bình.
Kết quả của nghiên cứu ALLHAT (Antihypertensive and
Lipid-Lowering Treatment to Prevent Heart Attack Trial) với cỡ mẫu > 25,000 bệnh nhân tăng huyết áp cũng cho thấy bệnh nhân có biến thiên huyết áp tâm thu giữa các lần thăm khám càng nhiều thì nguy cơ đột qụy càng tăng. Sau khi đã điều chỉnh theo huyết áp trung bình, tỷ số nguy cơ HR đột qụy ở nhóm có huyết áp dao động nhiều nhất (≥ 14 mmHg)so với nhóm có dao động ít nhất (< 6.5 mmHg) là 1.46 (khoảng tin cậy 95% 1.06 - 2.01).
Qua đó có thể thấy rằng, bệnh nhân tăng huyết áp vẫn không thể loạitrừ hoàn toàn nguy cơ đột qụy dù huyết áp trung bình của họ đã đạt mục tiêu.
Bài viết cùng chuyên mục
Ô mai! Món quà phương đông
Có thể nói, một trong những đóng góp thiết thực của văn hóa phương đông là biến một thứ quả rất chua, tưởng chừng không thể ăn được (quả mơ) thành một món ăn, vị thuốc quý ( ô mai).
Vắc xin Covid-19 Sputnik V: Pháp có thể bắt đầu tiêm chủng vào tháng 6
Bộ trưởng Ngoại giao các vấn đề châu Âu cho biết việc Pháp sử dụng vắc xin do Nga sản xuất phụ thuộc vào việc liệu nước này có nhận được sự chấp thuận của EU hay không.
Nguyên nhân của bệnh gan
Mặc dù gan có khả năng xúc tiến tái sinh, thường xuyên tiếp xúc với các chất độc hại có thể gây ra nghiêm trọng - và đôi khi không thể đảo ngược tác hại.
Xử trí cơn hen phế quản nặng
Nếu không có salbutamol hoặc bricanyl dạng khí dung, có thể dùng salbutamol hoặc bricanyl dạng xịt.
Thở ô xy
Thở oxy hay liệu pháp thở oxy là cho bệnh nhân khí thở vào có nồng độ oxy cao hơn nồng độ oxy khí trời (FiO¬¬2 > 21%).
Biến chứng tim do tăng huyết áp
Người ta cho rằng sự tăng quá mức collagene của cơ tim ở bệnh nhân tăng huyết áp do 2 qúa trình tăng tổng hợp và giảm thoái hóa collagene
Bệnh cơ tim chu sản
Có nghiên cứu đã thấy trong huyết thanh của bệnh nhân có kháng thể với cơ trơn và actin kết quả là có sự giải phóng actin và myosin trong suốt thời kỳ tử cung thoái triển sau khi sinh con.
Giá trị các ấn phẩm y học của Tiến sỹ Bác sỹ Trần Văn Phú
Đặc biệt, cuốn Biên soạn câu hỏi y học dựa trên chuẩn năng lực được xem là một dấu ấn quan trọng, góp phần khẳng định vị thế của TS.BS. Trần Văn Phú trong lĩnh vực giáo dục y khoa.
Rối loạn kinh nguyệt
Là triệu chứng nhưng đôi khi cần phải điều trị mặc dù chưa rõ nguyên nhân bệnh nhưng gây băng kinh, băng huyết, rong kinh kéo dài...
Vị thế và uy tín chuyên môn của Tiến sỹ Bác sỹ Trần Văn Phú
Ông được đào tạo chuyên sâu về phương pháp giảng dạy ngành khoa học sức khỏe và phương pháp giảng dạy, đánh giá kỹ năng lâm sàng tại Đại học Michigan (Hoa Kỳ) - một trong những trung tâm hàng đầu thế giới về y học và giáo dục y khoa.
Thăm dò thông khí phổi và khí máu động mạch
Đánh giá chức năng phổi của bệnh nhân trước khi mổ phổi (Ung thư phế quản, áp xe phổi, giãn phế quản, các can thiệp tim mạch, ổ bụng).
Quá liều thuốc chống đông
Protamin sulfat hình thành một phức hợp heparin-protamin và trung hoà tác dụng chống động của heparin. Protamin trung hoà heparin trong vòng 5 phút.
Chăm sóc bệnh nhân ngộ độc cấp
Đảm bảo chức năng hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, điều chỉnh các RL nước điện giải, toan kiềm...
Hồi sức cấp cứu - Sách dành cho bác sĩ và sinh viên y khoa
Hồi sức cấp cứu là một cẩm nang thực tiễn, súc tích và được biên soạn có chủ ý nhằm thu hẹp khoảng cách giữa kiến thức bệnh học nền tảng và năng lực xử trí chuyên sâu trong những tình huống nguy kịch.
GIẢM NGỨA HỌNG VÀ HO DO THỜI TIẾT
Vùng họng là nơi nhạy cảm, dễ bị kích thích bên ngoài tác động. Hiện tượng kích ứng vùng họng hay gặp nhất là ngứa họng, ho, khản tiếng...Ngứa họng là cảm giác khó chịu đầu tiên tại vùng họng khi có kích thích.
Nồng độ NT proBNP và hội chứng mạch vành cấp
Thiếu máu cơ tim và giảm oxy tế bào kích thích phóng thích NT-proBNP, Những yếu tố khác trong bệnh thiếu máu cơ tim gồm tăng tần số tim, những cytokin tiền viêm
Quy trình kỹ thuật thở ô xy
Tất cả các bệnh nhân thở Oxy phải làm ẩm khộng khí thở vào để đảm bảo tối ưu chức năng của nhung mao tiết nhầy đường hô hấp, đồng thời đảm bảo độ ấm.
Quy trình kỹ thuật khí dung thuốc
Khí dung trị liệu có thể được cụng cấp bằng bình phun thể tích nhỏ (SVN Small-Volume-Nebulizer) hoặc ống hít có phân liều (MDI Metered-Dose-Inhaler).
Block nhánh
Bloc nhánh là 1 hình ảnh điện tâm đồ do những rối loạn dẫn truyền xung động trong các nhánh bó His gây ra.
Quy trình khử khuẩn máy thở
Máy thở gồm 2 phần chính: phần thân máy và phần đường thở nối máy với bệnh nhân. Giữa 2 hệ thống này có các filter lọc khuẩn ngăn cách. Do vậy khi tiến hành côn gtác khử khuẩn máy thở chúng ta chỉ cần khử khuẩn hệ thống đường thở.
Thông khí nhân tạo với thể tích lưu thông tăng dần
Mục đích của phương thức thông khí nhân tạo Vt tăng dần nhằm hạn chế tình trạng xẹp phế nang do hiện tượng giảm thông khí phế năng gây ra.
Các thách thức khi viết sách y học tại Việt Nam
Từ thực tiễn biên soạn và xuất bản các giáo trình, cẩm nang lâm sàng, có thể nhận diện ba nhóm thách thức lớn: biên tập học thuật, minh họa y khoa và cập nhật kiến thức.
Nhiễm khuẩn hậu sản
Nhiễm khuẩn hậu sản là nhiễm khuẩn xảy ra ở sản phụ sau đẻ mà khởi điểm là từ đường sinh dục (Âm đạo, cổ tử cung, tử cung).
Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong bệnh hô hấp
Mặc dù chụp cắt lớp vi tính ngày càng phát triển nhưng phim chụp chuẩn thẳng và nghiêng vẫn là những tài liệu cung cấp nhiều thông tin quý báu để chẩn đoán định hướng bệnh phổi.
Hội chứng suy đa phủ tạng
Suy đa tạng (SĐT) là một tình trạng viêm nội mạch toàn thân do một đả kích làm hoạt hoá các tế bào miễn dịch.
