- Trang chủ
- Thông tin
- Thông tin y học tiếng Việt
- Bệnh Ebola
Bệnh Ebola
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Ebola là một loại virus hiếm gặp nhưng nguy hiểm, là nguyên nhân gây chảy máu bên trong và bên ngoài cơ thể.
Khi cơ thể bị virus lây lan, nó tổn thương hệ thống miễn dịch và cơ quan. Cuối cùng, nó gây giảm các tế bào đông máu ở các mức độ khác nhau. Điều này dẫn đến chảy máu nghiêm trọng, không kiểm soát được.
Căn bệnh này, còn được gọi là bệnh sốt xuất huyết Ebola và virus Ebola, làm chết tới 90% số người bị nhiễm bệnh.
Ổ dịch
Các trường hợp Ebola nghiêm trọng cho đến nay chỉ ở Trung và Tây Phi.
Ebola có thể lây lan từ nước này sang nước khi đi du lịch. Nhưng có nhiều cách để ngăn chặn căn bệnh này.
Phi hành đoàn được đào tạo để phát hiện các triệu chứng của Ebola ở hành khách bay từ những nơi virus được tìm thấy.
Nhiễm Ebola
Ebola không phải là bệnh truyền nhiễm như virus phổ biến như cảm lạnh, cúm, hoặc bệnh sởi. Nó lây lan sang người qua tiếp xúc với da hoặc chất dịch cơ thể của một con vật bị nhiễm bệnh, như một con khỉ, tinh tinh, hay loài dơi ăn quả. Sau đó nó di chuyển từ người này sang người khác theo cùng một cách. Những người chăm sóc người bệnh hoặc chôn những người đã chết vì căn bệnh này thường có nguy cơ.
Các con đường lây nhiễm Ebola khác bao gồm kim tiêm bị nhiễm hoặc từ các bề mặt vật dụng y tế.
Không thể nhiễm Ebola từ không khí, nước hoặc thực phẩm. Một người mang virus Ebola nhưng không có triệu chứng không thể lây lan căn bệnh này.
Triệu chứng của bệnh Ebola
Ban đầu, Ebola có thể cảm thấy giống như bệnh cúm hoặc các bệnh khác. Các triệu chứng xuất hiện 2 - 21 ngày sau khi nhiễm và thường bao gồm:
Sốt cao.
Nhức đầu.
Đau cơ và khớp.
Đau họng.
Yếu cơ.
Đau dạ dày.
Ăn không ngon.
Khi bệnh trở nên nặng hơn, gây chảy máu tạng bên trong cơ thể, cũng như từ mắt, tai và mũi. Một số người sẽ nôn hoặc ho ra máu, tiêu chảy ra máu, và có phát ban.
Chẩn đoán Ebola
Đôi khi thật khó để nói rằng một người mắc Ebola với các triệu chứng lâm sàng. Bác sĩ có thể kiểm tra để loại trừ các bệnh khác như dịch tả hay sốt rét.
Xét nghiệm máu và các mô cũng có thể chẩn đoán Ebola.
Nếu mắc Ebola, sẽ được cô lập từ công chúng ngay lập tức để ngăn chặn sự lây lan.
Điều trị Ebola
Không có cách chữa trị đặc hiệu Ebola, mặc dù các nhà nghiên cứu đang làm việc đó. Điều trị bao gồm dùng huyết thanh phá hủy các tế bào bị nhiễm bệnh.
Các bác sĩ điều trị các triệu chứng của Ebola với:
Dịch và chất điện giải.
Oxy.
Thuốc huyết áp.
Truyền máu.
Điều trị các bệnh nhiễm trùng khác.
Phòng ngừa Ebola
Không có vắc xin để phòng ngừa Ebola. Cách tốt nhất để tránh mắc bệnh là không đi du lịch đến các khu vực nơi mà có các loại virus đó.
Nhân viên y tế có thể ngăn ngừa nhiễm Ebola bằng cách đeo khẩu trang, găng tay, kính bảo hộ bất cứ khi nào họ tiếp xúc với những người mắc Ebola.
Lịch sử Ebola
Có năm loại virus Ebola. Bốn trong số đó gây ra các bệnh ở người.
Các virus Ebola đầu tiên xuất hiện trong năm 1976, bùng phát ở châu Phi.
Ebola được đặt tên từ sông Ebola, gần một ngôi làng ở Cộng hòa dân chủ Congo, nơi bệnh xuất hiện đầu tiên.
Bài viết cùng chuyên mục
Ảnh hưởng sinh lý của thông khí nhân tạo
Trong điều kiện tự thở, AL trong lồng ngực luôn âm. AL dao động từ -5 cmH2O (thở ra) đến -8 cmH2O (hít vào). AL phế nang dao động từ +1 cmH2O (thở ra) đến -1 cmH2O (hít vào).
Chăm sóc bệnh nhân nặng
Rối loạn nặng một hoặc nhiều các chức năng sống: hô hấp, tuần hoàn, não, thận, điện giải, thăng bằng kiềm toan
Tiến sĩ, Bác sĩ Trần Văn Phú: Từ chăm sóc nội khoa đến hồi sức cấp cứu
Tiến sĩ, Bác sĩ Trần Văn Phú tốt nghiệp Bác sĩ Đa khoa tại Đại học Y Hà Nội. Ông tiếp tục con đường học thuật và hoàn thành chương trình Thạc sĩ rồi Tiến sĩ Y học tại cùng cơ sở đào tạo.
Chức năng của gan
Trước khi cuộc hành trình của mình trên khắp cơ thể người, máu từ dạ dày và ruột được lọc bởi gan. Để ngăn chặn các chất gây ô nhiễm lưu thông trong máu, gan loại bỏ rất nhiều chất thải độc hại lưu hành.
Các biến chứng của thở máy
Triệu chứng báo hiệu thường là tình trạng chống máy, khi đó khám phổi phát hiện được tràn khí màng phổi, hoặc dấu hiệu nghi ngờ tràn khí trung thất.
Bệnh cơ tim chu sản
Có nghiên cứu đã thấy trong huyết thanh của bệnh nhân có kháng thể với cơ trơn và actin kết quả là có sự giải phóng actin và myosin trong suốt thời kỳ tử cung thoái triển sau khi sinh con.
Làm gì khi bị sốt cao, cảm cúm?
Khi nhiễm virus đặc biệt là virus cúm bệnh nhân cần nghỉ ngơi, có thể dùng thuốc hạ sốt giảm đau… đặc biệt phải bù nước và điện giải nhằm dự phòng và giảm đáng kể thời gian các triệu chứng.
Thực hành dinh dưỡng tốt trong nâng cao chất lượng điều trị
Với mong muốn cập nhật những chứng cứ mới nhất cũng như chia sẻ nhiều kinh nghiệm chuyên môn trong thực hành dinh dưỡng lâm sàng từ các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực
Các triệu chứng của bệnh gan
Sao lưu độc gan thực hiện các công việc hàng ngày của nó. Ngoài ra, các độc tố trong máu dễ dàng tích hợp vào não và tuyến nội tiết gây ra những vấn đề hệ thống thần kinh trung ương và sự mất cân bằng hormone.
Quá liều thuốc chống đông
Protamin sulfat hình thành một phức hợp heparin-protamin và trung hoà tác dụng chống động của heparin. Protamin trung hoà heparin trong vòng 5 phút.
Hội chứng HELLP
Bản chất HELLP là một thể lâm sàng đặc biệt của nhiễm độc thai nghén, Phù, tăng huyết áp và protein niệu.
Ts Bs Trần Văn Phú: Tác giả gắn kết thực hành lâm sàng với đổi mới giáo dục y khoa
Với học hàm học vị Tiến sĩ, Bác sĩ, Ts Bs. Trần Văn Phú thể hiện rõ sự kết hợp giữa tư duy khoa học, kinh nghiệm thực hành lâm sàng và cách tiếp cận sư phạm hiện đại.
Tổng quan về nồng độ NT proBNP huyết thanh
Gen biểu lộ BNP nằm trên nhiễm sắc thể số 1. Ở người khỏe mạnh gen này chủ yếu ở tâm nhĩ. Khi có tình trạng bệnh lý ảnh hưởng đến tâm thất như suy tim, gen biểu lộ BNP tại thất sẽ tăng cao.
Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong bệnh hô hấp
Mặc dù chụp cắt lớp vi tính ngày càng phát triển nhưng phim chụp chuẩn thẳng và nghiêng vẫn là những tài liệu cung cấp nhiều thông tin quý báu để chẩn đoán định hướng bệnh phổi.
Hướng dẫn chăm sóc bệnh nhân thở máy
Theo dõi tình trạng lâm sàng và SpO2 trong khi hút: nếu Bn xuất hiện tím hoặc SpO2 tụt thấp <85-90% phải tạm dừng hút: lắp lại máy thở với FiO2 100% hoặc bóp bóng oxy 100%.
Biên soạn câu hỏi y học dựa trên chuẩn năng lực
Cuốn sách là một cẩm nang thực hành - rõ ràng, dễ áp dụng và giàu ví dụ - dành cho giảng viên, biên soạn viên, chuyên viên khảo thí và những ai tham gia thiết kế chương trình, xây dựng ngân hàng đề và chuẩn hoá quy trình thi.
Mất đồng bộ cơ tim ở bệnh nhân tăng huyết áp
Trong hoạt động điện học, do sự bất thường của xung động, và sự dẫn truyền, trình tự hoạt động điện học của cơ tim mất sinh lý, và mất đồng bộ
Đặc điểm giải phẫu sinh lý động mạch vành
Hai động mạch vành được tách ra từ động mạch chủ lên bởi 2 lỗ ở khoảng 1/3 trên của các xoang Valsalva, ngay phía dưới bờ tự do của lá van tổ chim tương ứng, ở thì tâm thu.
Hồi sức cấp cứu - Sách dành cho bác sĩ và sinh viên y khoa
Hồi sức cấp cứu là một cẩm nang thực tiễn, súc tích và được biên soạn có chủ ý nhằm thu hẹp khoảng cách giữa kiến thức bệnh học nền tảng và năng lực xử trí chuyên sâu trong những tình huống nguy kịch.
Giới thiệu tác giả Ts Bs Trần Văn Phú
TS.BS. Trần Văn Phú đã có nhiều năm làm việc tại bệnh viện của nước ngoài, trực tiếp tham gia khám chữa bệnh, xử trí lâm sàng và vận hành hệ thống chăm sóc y tế theo chuẩn quốc tế.
Rau bong non
Tại cơ sở và địa phương: Tuyên truyền, giáo dục để mọi người, đặc biệt là chị em biết cách tự phát hiện thấy những dấu hiệu bất thường để tự giác đi khám lý thai tại các và quản cơ sở y tế.
Giá trị các ấn phẩm y học của Tiến sỹ Bác sỹ Trần Văn Phú
Đặc biệt, cuốn Biên soạn câu hỏi y học dựa trên chuẩn năng lực được xem là một dấu ấn quan trọng, góp phần khẳng định vị thế của TS.BS. Trần Văn Phú trong lĩnh vực giáo dục y khoa.
Thông khí nhân tạo điều khiển ngắt quãng đồng thì (SIMV)
Trước đây là một phương thức thở được sử dụng nhiều, kể cả trong cai thở máy. Tuy nhiên kết quả của các nghiên cứu gần đây không ủng hộ việc sử dụng phương thức này trong cai thở máy.
Các phác đồ kiểm soát đường huyết trong hồi sức cấp cứu
Tiêm tĩnh mạch insulin loại tác dụng nhanh khi kết quả xét nghiệm đường huyết mao mạch lớn hơn 11 mmol trên lít, liều bắt đầu là 5 hoặc 10 đơn vị.
Các bệnh da tăng sắc tố (hyperpigmentation)
Các bệnh có biểu hiện tăng sắc tố ở da bao gồm một số bệnh có căn nguyên di truyền hay bẩm sinh, do rối loạn chuyển hoá, nguyên nhân do nội tiết, do hoá chất hoặc thuốc, do dinh dưỡng.
