- Trang chủ
- Thông tin
- Thông tin y học tiếng Việt
- Tính chất, phân tích một số nhịp sóng điện não cơ bản
Tính chất, phân tích một số nhịp sóng điện não cơ bản
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Các sóng được phân biệt bởi tần số, và được chia thành các loại sau:
Alpha
Tần số 8 – 13Hz, hình sin, tạo thoi đều đăn, biên độ khoảng 50mcV.
Xuất hiện rõ nhất vùng chẩm, có thể ở vùng chẩm – trung tâm và chẩm – thái dương.
Có thể giảm hoặc mất nếu: có kích thích từ bên ngoài (đặc biệt là ánh sang), lao động trí óc hoặc chú ý đặc biệt, mở mắt.
Không xuất hiện nếu bị mù hoặc không ghi được nếu tổn thương thị giác.
Ý nghĩa: là kết quả của các chuỗi kích thích các TBTK ở vỏ não, có khả năng điều chỉnh theo thời gian các tín hiệu đến hoặc đi ra vỏ não
Beta
Tần số: 14 - 35 Hz trở lên.
Biên độ: ít khi > 20 mcV.
Thường xuất hiện nhưng ít khi là sóng chiếm ưu thế.
Xuât hiện chủ yếu vùng trước não (trán – trung tâm), có thể ở thái dương.
Sự tăng cường nhịp beta - sự tăng hưng phấn của vỏ não. Chiếm ưu thế nếu căng thẳng TK, hưng phấn hoặc lo âu. Giảm đi nếu chuyển động tự do các chi, kích thích xúc giác.
Theta
Tần số từ 4 - 7,5 Hz.
Xuất hiện chủ yếu ở trẻ em. Sau 10t thì biên độ và chỉ số sóng này giảm đi.
Người lớn khỏe mạnh: thưa thớt và có biên độ thấp.
Xuất hiện ở vùng trán – trung tâm và thái dương.
Nếu tăng chỉ số và biên độ => dấu hiệu tăng cường ức chế vỏ não. Nếu xuất hiện lan tỏa: giảm hd của vỏ não. Nếu có dạng cơn kịch phát đồng bộ => tổn thương cấu trúc dưới vỏ.
Delta
Tần số 0,5 – 3,5Hz, biên độ khoảng 20mcV.
Người BT: không ghhi được. Có chủ yếu ở trẻ em, người lớn nếu có chỉ khi gây mê.
Nếu có sóng: liên quan giảm trương lực vỏ não. Nếu tăng biên độ và chỉ số => thiếu oxy não liên quan tổn thương thực thể não. Nếu xuất hiện kịch phát và nhịp đồng bộ 2 phía => tổn thương cấu trúc dưới vỏ.
Nhịp Rolando ( µ)
Có hình vòng cung, xuất hiện tại vùng trung tâm của não gần rãnh rolando’tần số 7 – 11Hz. Là tình trạng quá hưng phấn của vỏ não Rolando
Giảm đi khi kích thích xúc giác và cảm thụ bản thể, nhưng không phản ứng với ánh sáng
Hình dạng: không đối xứng: 1 pha nhon, 1 pha hình vòng cung.
Xuất hiện dạng các chớp sóng nếu có cảm xúc mạnh, lo âu, cơn động kinh, rối loạn tâm thần.
Cách phân tích và đánh giá 1 bản ghi điện não
Tần số của các hoạt động điện não (Hz).
Sự đồng bộ của tần số qua so sánh giữa 2 bán cầu.
Biên độ của hoạt động điện não, đặc biệt của những thành phần chiếm ưu thế trên bản ghi.
Tính chất đối xứng của biên độ hoạt động điện não giữa 2 bán cầu.
Hình thái học của các sóng điện não (đơn hay đa dạng).
Khả năng của bản ghi với nhắm mở mắt
Đáp ứng của bản ghi với các nghiệm pháp hoạt hóa ( thở sâu, kích thích ánh sáng ngắt quãng, tiếng động, cử động, tính nhẩm).
Bài viết cùng chuyên mục
Thấp tim
Thấp tim là một bệnh viêm dị ứng xảy ra sau nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết β nhóm A gây nên, bệnh tổn thương ở hệ thống tổ chức liên kết theo cơ chế miễn dịch dị ứng
Co giật và động kinh
Co giật cũng được phân loại là cục bộ hoặc toàn thân dựa trên mức độ ảnh hưởng lên giải phẫu thần kinh hoặc được phân loại là đơn giản hay phức tạp dựa trên ảnh hưởng của co giật lên tình trạng ý thức.
Liệu pháp insulin trong điều trị đái tháo đường týp 2
Do tỷ lệ người cao tuổi mắc đái tháo đường týp 2 là phổ biến, thời gian mắc bệnh kéo dài, nhiều bệnh đi kèm, nguy cơ hạ đường huyết cao khi áp dụng khuyến cáo
Thủ thuật Helmlich
Là thủ thuật dùng tay người cứu hộ gây một áp lực mạnh trong đường dẫn khí để đẩy một dị vật gây tắc khí quản ra khỏi đường hô hấp trên.
Rau bong non
Tại cơ sở và địa phương: Tuyên truyền, giáo dục để mọi người, đặc biệt là chị em biết cách tự phát hiện thấy những dấu hiệu bất thường để tự giác đi khám lý thai tại các và quản cơ sở y tế.
Thực hành dinh dưỡng tốt trong nâng cao chất lượng điều trị
Với mong muốn cập nhật những chứng cứ mới nhất cũng như chia sẻ nhiều kinh nghiệm chuyên môn trong thực hành dinh dưỡng lâm sàng từ các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực
Chăm sóc bệnh nhân sốc
Sốc là tình trạng suy tuần hoàn cấp gây thiếu oxy tế bào, biểu hiện trên lâm sàng bằng tụt huyết áp phối hợp các dấu hiệu giảm tưới máu ngoại biên.
Chăm sóc bệnh nhân ngộ độc thuốc trừ sâu
Bệnh nhân uống thuốc trừ sâu, nôn, và thở có mùi thuốc trừ sâu. Mức độ trung bình, nhức đầu, nôn, vã mồ hôi, chân tay lạnh, mạch nhanh, vẫn tỉnh, huyết áp bình thường.
Hội chứng HELLP
Bản chất HELLP là một thể lâm sàng đặc biệt của nhiễm độc thai nghén, Phù, tăng huyết áp và protein niệu.
Tư vấn sức khỏe tim mạch miễn phí tại bệnh viện Hồng Ngọc
Mỗi năm, các bệnh lý về tim mạch đã cướp đi tính mạng của hơn 17 triệu người, không phân biệt tuổi tác, giới tính và tầng lớp xã hội, Những hậu quả nặng nề
Vắc xin Covid-19 Sputnik V: Đức có kế hoạch mua của Nga
Người phát ngôn của Bộ Y tế Đức nói với AFP rằng bang miền nam nước này đã ký một lá thư dự định mua tới 2,5 triệu liều vắc-xin nếu nó được Cơ quan Dược phẩm Châu Âu (EMA) chấp thuận.
Xử trí tăng Kali máu
Các triệu chứng tim mạch: rối loạn nhịp nhanh. ngừng tim; chúng thường xảy ra khi tăng kali máu quá nhanh hoặc tăng kali máu kèm với hạ natri máu, hạ magne máu, hay hạ calci máu.
Dung dịch vệ sinh phụ nữ chất lượng cao
Cùng với hơn 100 doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam, Dạ Hương tiếp tục góp mặt tại hội chợ lần thứ 9 Hàng Việt Nam chất lượng cao, tổ chức tại thủ đô Phnompenh, Campuchia.
Theo dõi bệnh nhân thở máy
Theo dõi bệnh nhân là quan trọng nhất vì tất cả mọi cố gắng của bác sỹ kể cả cho bệnh nhân thở máy cũng chỉ nhằm tới mục tiêu là ổn định và dần dần cải thiện tình trạng bệnh nhân.
Tiến sỹ Bác sỹ Trần Văn Phú: Từ khởi đầu đến vai trò tác giả y học
Từ những ca bệnh cấp tính, ông tích luỹ không chỉ kinh nghiệm xử trí kỹ thuật mà còn nhận ra nhu cầu hệ thống hoá kiến thức để truyền lại một cách dễ áp dụng cho đồng nghiệp và học trò.
Quy trình khử khuẩn máy thở
Máy thở gồm 2 phần chính: phần thân máy và phần đường thở nối máy với bệnh nhân. Giữa 2 hệ thống này có các filter lọc khuẩn ngăn cách. Do vậy khi tiến hành côn gtác khử khuẩn máy thở chúng ta chỉ cần khử khuẩn hệ thống đường thở.
Cấp cứu nội khoa - Sách ôn thi chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh
Cấp cứu ban đầu - Nội khoa là một cẩm nang thực hành, súc tích và giàu kinh nghiệm dành cho sinh viên y khoa, bác sĩ nội trú và bác sĩ lâm sàng cần một tài liệu nhanh - chính xác - dễ ứng dụng trong những phút quyết định đầu tiên khi tiếp cận bệnh nhân cấp cứu.
Hậu sản thường
Sau khi sổ rau, tử cung co chắc thành khối an toàn, trọng lượng tử cung lúc đó nặng khoảng 1.000g, sau 1 tuần, tử cung còn nặng khoảng 500g, cuối tuần lễ thứ 2 còn khoảng 300g, các ngày sau đó nặng 100g.
Mất đồng bộ cơ tim ở bệnh nhân tăng huyết áp
Trong hoạt động điện học, do sự bất thường của xung động, và sự dẫn truyền, trình tự hoạt động điện học của cơ tim mất sinh lý, và mất đồng bộ
Sổ rau thường
Sổ rau là giai đoạn thứ 3 của cuộc chuyển dạ, tiếp theo sau giai đoạn mở cổ tử cung và giai đoạn sổ thai. Nếu 2 giai đoạn trước diễn ra bình thường thì tiên lượng của sản phụ lúc này phụ thuộc vào diễn biến của giai đoạn này.
Cấp cứu ban đầu nội khoa - Ôn thi chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh
Cấp cứu ban đầu nội khoa là định hướng rõ ràng cho mục tiêu ôn thi Chứng chỉ hành nghề. Nội dung sách được xây dựng bám sát những yêu cầu cốt lõi của năng lực hành nghề, nhấn mạnh các tình huống cấp cứu thường được sử dụng trong đề thi và trong thực hành thực tế.
Giá trị các ấn phẩm y học của Tiến sỹ Bác sỹ Trần Văn Phú
Đặc biệt, cuốn Biên soạn câu hỏi y học dựa trên chuẩn năng lực được xem là một dấu ấn quan trọng, góp phần khẳng định vị thế của TS.BS. Trần Văn Phú trong lĩnh vực giáo dục y khoa.
Chức năng của gan
Trước khi cuộc hành trình của mình trên khắp cơ thể người, máu từ dạ dày và ruột được lọc bởi gan. Để ngăn chặn các chất gây ô nhiễm lưu thông trong máu, gan loại bỏ rất nhiều chất thải độc hại lưu hành.
Vai trò của beta2 microglobulin ở bệnh nhân suy thận mạn tính
Vai trò của β2M trong chẩn đoán phân biệt những rối loạn chức năng thận và theo dõi động học quá trình tiến triển bệnh lý thận được lưu ý một cách đặc biệt.
Hồi sức cấp cứu - Sách dành cho bác sĩ và sinh viên y khoa
Hồi sức cấp cứu là một cẩm nang thực tiễn, súc tích và được biên soạn có chủ ý nhằm thu hẹp khoảng cách giữa kiến thức bệnh học nền tảng và năng lực xử trí chuyên sâu trong những tình huống nguy kịch.
