- Trang chủ
- Thông tin
- Thông tin y học tiếng Việt
- Đông máu rải rác trong lòng mạch (DIC)
Đông máu rải rác trong lòng mạch (DIC)
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Biểu hiện lâm sàng
Ban xuất huyết và bầm máu toàn thân, chảy máu từ các vị trí chọc tĩnh mạch ngoại vi, catheter tĩnh mạch trung tâm, vết thương và rỉ máu từ lợi là các biểu hiện thường gặp.
Chảy máu đường tiêu hoá và tiết niệu thường xẩy ra. Đổi thành mầu xám hay xanh tím đầu ngón tay, chân và tai có thể được thấy do huyết khối trong lòng mạch gây nên.
Các vùng bầm máu lớn, ranh giới rõ ràng có thể được thấy như hậu quả của tình trạng huyết khối các mạch cấp máu cho da.
Chẩn đoán
Các dấu hiệu cận lâm sàng: Có thể rất thay đổi, không có một thông số duy nhất nào để chẩn đoán DIC. Kiểm tra nhắc lại các thông số đánh giá tình trạng đông máu có thể cung cấp một đánh giá động tốc độ và mức độ tiêu thụ các yếu tố đông máu cũng như việc bồi phụ các yếu tố này.
Nhuộm mẫu máu ngoại biên: Cung cấp bằng chứng tan máu trong mao mạch với các mảnh hồng cầu vỡ. Giảm tiểu cầu thường thấy (khi con số tiểu cầu luôn bình thường trong quá trình xét nghiệm gần như loại trừ chẩn đoán có DIC cấp).
Các xét nghiệm đánh giá tình trạng đông máu: PT, PTT và thời gian thrombin thường bị kéo dài. Nồng độ fibrinogen bị suy giảm (< 150 mg/dl). Các sản phẩm giáng hoá fibrin bị tăng lên (> 10 mg/dl). D- dimer cũng tăng cao (> 0,5 mg/dl với độ nhậy 85%, độ đặc hiệu 97%).
Xử trí
Điều trị tình trạng nền tiên phát thúc đẩy bệnh (như nhiễm khuẩn huyết). Làm hết hội chứng này phụ thuộc vào điều trị rối loạn nền, bên cạnh các nỗ lực bồi phụ lại các yếu tố đông máu và tiểu cầu.
Xử trí xuất huyết nặng và sốc bằng truyền dịch và khối hồng cầu.
Nếu bệnh nhân có nguy cơ cao bị chảy máu hay chảy máu tiến triển với bằng chứng sinh hoá của DIC: Bồi phụ lại fibrinogen, tiểu cầu và các yếu tố đông máu bằng chất kết tủa đông lạnh, plasma tươi đông lạnh và tiểu cầu nếu có chỉ định.
Truyền máu nếu cần bồi phụ lại các yếu tố đông máu: Nồng độ fibrinogen và con số tiểu cầu phải được xác định 30-60 min sau khi truyền máu và mỗi 4-6h sau đó, để đánh giá hiệu quả điều trị và để quyết định có cần phải truyền máu tiếp hay không. Mỗi đơn vị tiểu cầu sẽ làm tăng thêm con số tiểu cầu khoảng 5000-10 000/mcl. Mỗi đơn vị chất kết tủa đông lạnh sẽ làm tăng fibrinogen thêm 5-10 mg/dl.
Heparin:
Dùng heparin còn đang gây tranh luận. Các chỉ định gồm: Có bằng chứng lắng đọng fibrin (như hoại tử da, thiếu máu cục bộ ngọn chi, huyết khối lấp mạch đối với tĩnh mạch).
Xét dùng thuốc khi bệnh lý đông máu được cho là thứ phát sau bất kỳ một tình trạng bệnh lý tiên phát kể sau: thai chết lưu, tắc mạch do dịch ối, u máu khổng lồ, phình động mạch chủ, các khối u đặc, leucemie tiền tuỷ bào. Cũng xét dùng heparin, khi u không thể điều chỉnh được các yếu tố đông máu bằng cách đơn thuần bồi phụ lại các yếu tố này.
Nếu chỉ định điều trị heparin, liều dùng và đường dùng nên được điều chỉnh tuỳ theo rối loạn nền. Nói chung, điều trị bằng heparin được bắt đầu với liều tương đối thấp (5-10 U/kg/h), bằng cách truyền tĩnh mạch liên tục mà không cần dùng liều bolus. Các thông số đông máu sau đó phải được theo dõi để hướng dẫn điều trị. Nếu mong muốn làm tăng các yếu tố đông máu không đạt được, khi đó liều heparin có thể tăng dẫn mỗi lần 2,5U/kg/h tới khi đạt được tác dụng mong muốn.
Bài viết cùng chuyên mục
Tổn thương thận ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
Sự xuất hiện bệnh thận do đái tháo đường týp 2 sẽ làm gia tăng nguy cơ bệnh mạch vành, đột quỵ não lên gấp 10 lần. Nếu bệnh nhân đái tháo đường týp 2 khi chưa có MAU thì nguy cơ bệnh tim mạch gia tăng 2-4 lần
Thở ô xy
Thở oxy hay liệu pháp thở oxy là cho bệnh nhân khí thở vào có nồng độ oxy cao hơn nồng độ oxy khí trời (FiO¬¬2 > 21%).
Chăm sóc bệnh nhân ngộ độc thức ăn
Đây là một tình trạng bệnh lý hay gặp, đa dạng, nếu xử trí không đúng có thể nguy hiểm cho bệnh nhân.
Tràn khí màng phổi toàn bộ
Tràn khí màng phổ toàn bộ là một bệnh lý cấp tính của khoang màng phổi đặc trưng bởi xuất iện khí trong từng khoang màng phổi ở các mức độ khác nhau
Phương thuốc cổ truyền trừ ho
Theo ý đó, phương thuốc cổ truyền cũng bao gồm nhiều vị tá, tạo ra tính phong phú về tác dụng cho phương thuốc, góp phần nâng cao hiệu quả trị bệnh chung.
Thông khí nhân tạo điều khiển ngắt quãng đồng thì (SIMV)
Trước đây là một phương thức thở được sử dụng nhiều, kể cả trong cai thở máy. Tuy nhiên kết quả của các nghiên cứu gần đây không ủng hộ việc sử dụng phương thức này trong cai thở máy.
TRỨNG CÁ - GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VÀ TRỊ MỤN VÀO MÙA HÈ!
Trứng cá là bệnh rất thường gặp, gặp ở cả hai giới nam và nữ, hay gặp hơn cả ở tuổi dậy thì, nguyên nhân là do vào lúc dậy thì nội tiết tố sinh dục được tiết ra nhiều
Hội chứng suy đa phủ tạng
Suy đa tạng (SĐT) là một tình trạng viêm nội mạch toàn thân do một đả kích làm hoạt hoá các tế bào miễn dịch.
Nguyên lý cấu tạo máy thở
Các máy thở đều dựa vào nguyên lý tạo ra chênh lệch áp lực nhằm đưa khí vào trong và ra ngoài phổi của bệnh nhân để thực hiện quá trình thơng khí.
Biên soạn câu hỏi y học dựa trên chuẩn năng lực
Cuốn sách là một cẩm nang thực hành - rõ ràng, dễ áp dụng và giàu ví dụ - dành cho giảng viên, biên soạn viên, chuyên viên khảo thí và những ai tham gia thiết kế chương trình, xây dựng ngân hàng đề và chuẩn hoá quy trình thi.
Hướng dẫn tiến hành thông khí nhân tạo (cơ học)
Đánh giá bệnh nhân về tổng trạng, về cơ quan hô hấp, về khí máu động mạch nhằm phân loại nhóm suy hô hấp cấp cần thông khí cơ học
Liệu pháp insulin trong điều trị đái tháo đường týp 2
Do tỷ lệ người cao tuổi mắc đái tháo đường týp 2 là phổ biến, thời gian mắc bệnh kéo dài, nhiều bệnh đi kèm, nguy cơ hạ đường huyết cao khi áp dụng khuyến cáo
Nồng độ NT proBNP và hội chứng mạch vành cấp
Thiếu máu cơ tim và giảm oxy tế bào kích thích phóng thích NT-proBNP, Những yếu tố khác trong bệnh thiếu máu cơ tim gồm tăng tần số tim, những cytokin tiền viêm
Giá trị các ấn phẩm y học của Tiến sỹ Bác sỹ Trần Văn Phú
Đặc biệt, cuốn Biên soạn câu hỏi y học dựa trên chuẩn năng lực được xem là một dấu ấn quan trọng, góp phần khẳng định vị thế của TS.BS. Trần Văn Phú trong lĩnh vực giáo dục y khoa.
Đặt nội khí quản đường miệng có đèn soi thanh quản
Đặt nội khí quản khí quản đường miệng có đèn soi thanh quản là thủ thuật luồn qua miệng một ống nội khí quản, vượt qua thanh môn vào khí quản một cách an toàn.
LÀM DỊU HỌNG NGAY KHI BỊ NGỨA HỌNG
Ngứa họng là triệu chứng kích thích ở họng, xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau. Có thể thấy ngứa họng xuất hiện trong các bệnh lý viêm đường hô hấp như: viêm họng, viêm khí phế quản, viêm mũi xoang...
Thấp tim
Thấp tim là một bệnh viêm dị ứng xảy ra sau nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết β nhóm A gây nên, bệnh tổn thương ở hệ thống tổ chức liên kết theo cơ chế miễn dịch dị ứng
Thông khí nhân tạo với thể tích lưu thông tăng dần
Mục đích của phương thức thông khí nhân tạo Vt tăng dần nhằm hạn chế tình trạng xẹp phế nang do hiện tượng giảm thông khí phế năng gây ra.
Khái niệm về thông khí nhân tạo trong điều trị tích cực
Đảm bảo thay thế chức năng của phổi: PaO2, PaCO2, pH phải thay đổi tuỳ theo từng tình trạng bệnh lí, từng chỉ định thở máy.
Xử trí cơn hen phế quản nặng
Nếu không có salbutamol hoặc bricanyl dạng khí dung, có thể dùng salbutamol hoặc bricanyl dạng xịt.
Tính chất, phân tích một số nhịp sóng điện não cơ bản
Sự tăng cường nhịp beta - sự tăng hưng phấn của vỏ não. Chiếm ưu thế nếu căng thẳng TK, hưng phấn hoặc lo âu. Giảm đi nếu chuyển động tự do các chi, kích thích xúc giác.
Chăm sóc bệnh nhân tai biến mạch não
Tai biến mạch não, là dấu hiệu phát triển nhanh chóng trên lâm sàng, của một rối loạn khu trú chức năng của não kéo dài trên 24giờ
Vị thế và uy tín chuyên môn của Tiến sỹ Bác sỹ Trần Văn Phú
Ông được đào tạo chuyên sâu về phương pháp giảng dạy ngành khoa học sức khỏe và phương pháp giảng dạy, đánh giá kỹ năng lâm sàng tại Đại học Michigan (Hoa Kỳ) - một trong những trung tâm hàng đầu thế giới về y học và giáo dục y khoa.
Các triệu chứng của bệnh gan
Sao lưu độc gan thực hiện các công việc hàng ngày của nó. Ngoài ra, các độc tố trong máu dễ dàng tích hợp vào não và tuyến nội tiết gây ra những vấn đề hệ thống thần kinh trung ương và sự mất cân bằng hormone.
Thông khí không xâm nhập áp lực dương
CPAP ( Continuous Positive Airway Pressure, áp lực dương tính liên tục): bệnh nhân tự thở trên nền áp lực đường thở dương tính liên tục.
