Bệnh đau nhiều cơ do thấp và viêm động mạch tế bào khổng lồ

Ngày: 2017-1-3

By member of dieutri.vn

Khi có đau đầu và những triệu chứng khác gợi ý viêm động mạch sọ não, cần bắt đầu dùng ngay prednison 60 mg một ngày để đề phòng mù mắt, sinh thiết động mạch thái dương cũng nên được tiến hành ngay.

Các hội chứng viêm mạch máu là một nhóm gồm nhiều bệnh lý khác nhau, đặc trưng về mặt giải phẫu bệnh bởi tổn thương viêm và hoại tử của các mạch máu. Nguyên nhân của hầu hết các loại viêm mạch máu đều chưa rõ. Nhiễm khuẩn là một yếu tố quan trọng trong bệnh sinh của một số loại. Trong bệnh viêm đa động mạch, 30 - 50% bệnh nhan có các bằng chứng của viêm gan B hoặc C. Hầu hết bệnh nhân mắc bệnh cryoglobulin huyết hỗn hợp bị nhiễm virus viêm gan C. Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn và bệnh giang mai có thể phối hợp với viêm mạch máu và một số ít trường hợp sau nhiễm herpes zoster có thể có viêm mạch máu ở thần kinh trung ương. Phản ứng thuốc, đặc biệt với penicillin, sulfonamid và allopurinol có thể gây ra bệnh lý huyết, thanh có kèm theo viêm mạch máu. Người ta vẫn chưa xác định được mối liên quan về mật bệnh lý trong những rối loạn này, tuy nhiên có thể thấy hiện tượng lắng đọng các phức hợp miễn dịch trong hệ thống máu.

Mặc dù viêm mạch máu xuất hiện trong nhiều bệnh khác nhau, song đây chỉ trình bày một số bệnh lý chủ yếu.

Bệnh đau nhiều cơ do thấp, một bệnh ảnh hưỏng tới lứa tuổi trung niên và những người già, hiếm khi xuất hiện trước tuổi 50. Bệnh thường xuất hiện đột ngột với biểu hiện đau và cứng các cơ vùng chậu hông và vai, kèm theo sốt, mệt mỏi và sút cân. Thiếu máu và máu lắng tăng cao hầu như luôn luôn có mặt. Nhìn chung bệnh kéo dài trong 1 - 2 năm, nhưng có thể lâu hơn.

Bệnh đau nhiều cơ do thấp có một mối liên hệ chặt chẽ với viêm động mạch tế bào khổng lồ, hai tình trạng này thường cùng tồn tại, tuy nhiên có thể xuất hiện độc lập với nhau; khi cả hai bệnh cùng xuất hiện, các biểu hiện lâm sàng của đau do thấp luôn luôn có trước các biểu hiện của viêm động mạch tế bào khổng lồ. Việc chẩn đoán viêm động mạch rất quan trọng vì nó có thể dẫn tới nguy cơ gây mù do tắc động mạch mi sau và động mạch mắt. Các triệu chứng gợi ý viêm động mạch gồm đau đầu một bên, nhậy cảm với ánh sáng, các triệu chứng thị giác và dấu hiệu khập khiễng hàm (jaw claudication). Tuy nhiên viêm động mạch có thể xuất hiện mà không có triệu chứng tại chỗ. Trên thực tế, có 40% bệnh nhân không có các dấu hiệu cổ điển, chủ yếu những biểu hiện ở đường hô hấp (thường gặp nhất là ho khan), viêm một dây thần kinh (thường là liệt vai kèm theo đau) hoặc sốt không rõ nguyên nhân. Viêm động mạch tế bào khổng lồ chiếm tới 15% trường hợp sốt không rõ nguyên nhân ở những người trên 65 tuổi. Có thể sốt cao tới 40°C (104°F) và thường kèm theo rét run và vã mồ hôi. Khác với bệnh nhân bị nhiễm trùng, bệnh nhân viêm động mạch tế bào khổng lồ có sốt gần như luôn có số lượng bạch cầu máu bình thường (trước khi dùng prednison). Do vậy, khi một bệnh nhân già có sốt cao không rõ nguyên nhân, tốc độ máu lắng rất cao, và công thức bạch cầu bình thường cần phải nghi ngờ viêm động mạch tế bào khổng lồ, ngay cả khi không có các biểu hiện đặc trưng của bệnh như đau đầu và dấu hiệu khập khiễng hàm.

Khi có đau đầu và những triệu chứng khác gợi ý viêm động mạch sọ não, cần bắt đầu dùng ngay prednison 60 mg/ngày để đề phòng mù mắt, sinh thiết động mạch thái dương cũng nên được tiến hành ngay. Sự biến mất nhanh của những thay đổi tế bào học ở động mạch thái dương còn chưa rõ ràng, nhưng sinh thiết trong vòng 1 - 2 tuần đầu sau khi bắt đầu điều trị vẫn có giá trị, Một mẫu sinh thiết đầy đủ (dài 3 - 5 cm) là cần thiết bởi vì bệnh có xu hướng tổn thương từng đoạn; sinh thiết cả hai bên làm tăng khả năng chẩn đoán lên 10 - 20%. Có 10 - 15% bệnh nhân có viêm mạch máu lớn khác. Prednison nên tiếp tục với liều 60 mg/ngày trong 1 - 2 tháng, sau đó giảm dần liều. Khi bệnh nhân chỉ có các triệu chứng đau nhiều cơ do thấp, không cần thiết phải sinh thiết động mạch thái dương. Hơn nữa đau nhiều cơ do thấp nếu không có viêm động mạch, thường đáp ứng rất nhanh (từ 1 - 5 ngày) và rất nhậy cảm với liều prednison thấp hơn (10 - 15 mg/ngày). Nếu bệnh nhân không có đáp ứng như vậy, chẩn đoán đau nhiều cơ do thấp cần phải nghi ngờ. Xét nghiệm lắng máu có ích giúp cho việc điều chỉnh liều lượng steroid, tuy nhiên xét nghiệm này không tuyệt đối phản ánh mức độ hoạt động của bệnh. Mù mắt hiếm khi xuất hiện khi máu lắng đã trở về bình thường. Thuốc có thể ngừng khi bệnh ngừng tiến triển, mặc dù bệnh có thể tái phát và ở một số bệnh nhân bệnh còn tiến triến trong nhiều năm. Trước khi bắt đầu điều trị corticosteroid cần phải luôn loại trừ những bệnh nhiễm khuẩn mạn tính như viêm nội tâm mạc nhiểm khuẩn, có các triệu chứng tương tự bệnh đau nhiếu cơ do thấp. Đau xương tủy và những bệnh ác tính khác nên luôn luôn được xem là những nguyên nhân gây thiếu máu và tốc độ lắng máu tăng rất cao.