Các khối u và những tổn thương giống khối u của xương

2017-01-05 05:27 PM

Các khối u tiên phát của xương tương đối hiếm gặp so với các khối u thứ phát hoặc di căn, Tuy nhiên chúng có ý nghĩa lớn trên lâm sàng bởi vì có nhiều khả năng ung thư.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Những điểm thiết yếu trong chẩn đoán

Đau dai dẳng, sưng, hoặc tăng nhậy cảm với đau tại một vị trí của xương.

Gẫy xương bệnh lý (tự phát).

Vùng nghi ngờ có tổn thương to ra, biến dạng tăng đậm độ X quang hoặc thấu quang trên phim X quang.

Có bằng chứng tế bào học của khối u xương trên các mẫu sinh thiết.

Nhận định chung

Các khối u tiên phát của xương tương đối hiếm gặp so với các khối u thứ phát hoặc di căn. Tuy nhiên chúng có ý nghĩa lớn trên lâm sàng bởi vì có nhiều khả năng ung thư và bởi vì một số khối u này phát triển rất nhanh và di căn rộng.

Theo cổ điển, các khối u xương được chia thành 2 nhóm là tiên phát và thứ phát, song còn có một số không thống nhất là những khối u nào được gọi là tiên phát đối với hệ thống xương khớp. Những khối u có nguồn gốc trung mô phản ánh cấu trúc xương (như xương, sụn, và mô liên kết) và những khối u phát triển trong xương tạo huyết, thần kinh, mạch máu, tế bào mỡ và những khối u có nguồn gốc ống sống bào thai cần phải được phân biệt với những khối u ác tính thứ phát lan trực tiếp vào xương hoặc qua đường máu. Bởi vì có rất nhiều loại khối u xương, cho nên khó có thể đưa ra một bảng danh sách phân loại đơn giản thoả đáng cho các u xương.

Lâm sàng

Đau xương dai dẳng, xương trở nên to ra, có thể hạn chế vận động của khớp kế cận hoặc gẫy xương tự phát là những dấu hiệu đòi hỏi phải khẩn trương thăm khám lâm sàng, X quang, xét nghiệm và sinh thiết xương. X quang cho biết vị trí, mức độ lan rộng tổn thương và cung cấp một số dấu hiệu đặc trưng gợi ý chẩn đoán đặc hiệu. Những hình ảnh được gọi là cổ điển trên phim X quang của một số khối u (chẳng hạn như hình ảnh lỗ chỗ trong đa u tủy xương, dấu hiệu "tia mặt trời" trong sarcom xương, dấu hiệu "vỏ củ hành" trong sarcom Ewing, mặc dù có ý nghĩa gợi ý song không phải đặc trưng của bệnh. Ngay cả những đặc điểm tế bào học, khi xuất hiện đơn độc, cũng không thể đem lại những thông tin chính xác về quá trình bệnh. Tuổi bệnh nhân, thời gian bị bệnh, vị trí và số lượng xương bị tổn thương và sự có mặt hay vắng mặt của một bệnh lý toàn thân phối hợp cũng như những đặc điểm tế bào học phải được xem xét một cách tổng hợp để có một biện pháp điều trị thích hợp.

Cần phải luôn nghĩ đến những khả năng một tổn thương xương có thể là những bất thường lành tính, bệnh lý ung thư di căn, nhiễm khuẩn (chẳng hạn cốt tủy viêm), tổn thương sau chấn thương hoặc một bệnh xương do chuyển hóa. Nếu khối u xương xuất hiện ở trong hoặc gần khớp, chúng có thể bị nhầm lẫn với các dạng viêm khớp, đặc biệt là viêm một khớp.

Một số khối u xương đặc biệt

Những khối u phát triển từ mô liên kết tạo xương gồm u mô dạng xương và sarcom xương. Những khối u mô dạng xương thường là những khối u lành tính ở trẻ em và người trẻ tuổi, nên phẫu thuật để loại bỏ. Sarcom xương thường xuất hiện ở khớp gối hoặc các xương dài và nên được điều trị bằng phẫu thuật và hóa trị liệu, tỉ lệ sống sót được cải thiện trong những năm gần đây. Sarcom sợi (fibrosarcoma), bắt nguồn từ mô liên kết không tạo xương, và tiên lượng tương tự với những sarcom xương. Những khối u nguồn gốc sụn gồm u nội sụn, u xơ dạng sụn nhầy và sarcom sụn. Xét nghiệm tế bào học để chẩn đoán xác định nhóm khối u này và tiên lượng khi được điều trị thích hợp và phẫu thuật nhìn chung là tốt.

Những khối u xương khác gồm u tế bào khổng lồ (u hủy cốt bào), u nguyên bào sụn và sarcom Ewing. Trong số này, u nguyên bào sụn gần như luôn luôn lành tính. Khoảng 50% bệnh nhân u tế bào khổng lồ là u lành tính, số còn lại có thể là ác tính thật sự hoặc tái phát sau phẫu thuật cắt bỏ. Sarcom Ewing, gặp ở trẻ em, thiếu niên, người lớn trẻ tuổi, có tỉ lệ tử vong 50% cho dù điều trị hóa trị liệu, chạy tia hoặc phẫu thuật.

Điều trị

Mặc dù can thiệp là cần thiết để điều trị một số khối u song cần phải có chẩn đoán chính xác bởi vì sẽ có thể có một tác hại lớn xuất hiện hoặc do điều trị chậm trễ hoặc do những phẫu thuật tận gốc hoặc cắt bỏ hoặc do việc chạy tia không cần thiết.

Bài viết cùng chuyên mục

Bệnh viêm cột sống dính khớp

Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng có xu hướng lan dần lên phía đầu, vận động cột sống trở nên hạn chế, mất đường cong sinh lý bình thường của cột sống thắt lưng.

Đánh giá và chẩn đoán bệnh cơ xương khớp

Làm các thăm dò xét nghiệm để hoàn thiện việc đánh giá. Những xét nghiệm thông thường gồm tốc độ lắng máu, phản ứng tìm yếu tố dạng thấp, kháng thể kháng nhân

Thấp khớp hay tái phát

Thấp khớp hay tái phát là một bệnh không rõ nguyên nhân đặc trưng bởi những đợt viêm cấp không tái phát, Sưng đau khớp ngoại vi và nổi hạt dưới da tạm thời có thể xuất hiện.

Những nguyên tắc cơ bản trong điều trị bệnh khớp mạn tính

Mức độ nghỉ ngơi phụ thuộc vào sự có mặt và mức độ viêm. Những bệnh nhân đang có viêm khớp và những triệu chứng toàn thân nặng như trong bệnh viêm khớp dạng thấp

Viêm gân lắng đọng Calci vùng vai cánh tay

Viêm gán lắng đọng calci cần phải phân biệt với những hội chứng đau cổ cánh tay khác, viêm khớp mủ, thoái khớp, gút, các khối u đỉnh phổi Pancoast và đứt bao xoay.

Bệnh gút

Gút là một bệnh rối loạn chuyển hóa, thường có tính chất gia đình, do sự thay đổi bất thường lượng urat trong cơ thể và đặc trưng đầu tiên của bệnh là những cơn viêm khớp cấp tái phát

Lao xương khớp

Hầu hết những nhiễm khuẩn do lao ở Mỹ do vi khuẩn lao người Mycobacterium tuberciilosis gây ra, Nhiễm khuẩn hệ thống xương khớp do sự lan tràn trên đường máu.

Hội chứng đau cổ cánh tay

Nguyên nhân đau cổ gồm căng cứng hoặc vẹo cổ cấp hoặc mạn tính, thoát vị nhân nhày đĩa đệm, thoái khớp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp dạng thấp

Viêm đa cơ - viêm da cơ

Viêm đa cơ là một bệnh hệ thống mà nguyên nhân chưá rõ, biểu hiện chủ yếu của bệnh là yếu cơ, Đây là một bệnh cơ nguyên phát thường gặp nhất ở người lớn.

Viêm nút đa động mạch

Viêm đa động mạch đặc trưng bởi tổn thương cục bộ hoặc từng đoạn của các mạch máu, đặc biệt là các động mạch nhỏ và trung bình, gây ra những biểu hiện lâm sàng khác nhau.

Viêm khớp vảy nến

Bệnh khớp giống viêm khớp dạng thấp, viêm đa khớp đối xứng. Thông thường tổn thương ít khớp hơn so với viêm khớp dạng thấp và yếu tố dạng thấp trong huyết thanh âm tính.

Viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là bệnh toàn thân có viêm mạn tính màng hoạt dịch của nhiều khâp, mà nguyên nhân chưa rõ, Bệnh có bệnh cảnh lâm sàng phong phú.

Đau thắt lưng

Thăm khám thực thể cũng rất quan trọng, bởi vì những triệu chứng như sốt, tăng huyết áp, hạch to, có khối u ở bụng, ở khung chậu hay ở trực tràng

Viêm khớp trong bệnh sarcoid

Tuy viêm khớp sarcoid thường kèm theo ban đỏ dạng nốt, song chẩn đoán lại dựa vào sự có mặt của những biểu hiện ngoài khớp khác của bệnh sarcoid.

Hội chứng Reiter

Hội chứng Reiter cần phải phân biệt với viêm khớp do lậu, đặc biệt khi viêm kết mạc nhẹ hoặc bị bỏ qua, Viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp tiên phát.

Bệnh thiểu sản xương: bệnh giòn xương

Dạng thứ hai là thiểu sản xương muộn, trong đó gẫy xương và biến dạng xương xuất hiện sau khi đẻ. Xương dòn, dễ gãy là một tiêu chuẩn rõ ràng nhất cho chẩn đoán.

Nhiễm khuẩn xương và khớp do nấm

Phân biệt với những ổ nhiễm khuẩn mạn tính khác dựa vào kết quả nuôi cấy dịch khớp hoặc tổ chức lấy từ ổ tổn thương. Các phản ứng huyết thanh cung cấp những bằng chứng có ích cho chẩn đoán.

Viêm khớp nhiễm khuẩn cấp không do lậu

Việc sử dụng nội soi ngày càng rộng rãi và những phẫu thuật thay khớp nhân tạo đã làm cho tỉ lệ viêm khớp nhiễm khuẩn tăng lên.

Những biểu hiện khớp trong nhiễm HIV

Viêm gân Achille hoặc viêm quanh khớp gối, như trong hội chứng Reiter cổ điển, là những dấu hiệu thường nổi bật và rất đặc trưng.

Bệnh hỗn hợp của mô liên kết

Bệnh ít gặp, bệnh nhân có các triệu chứng của nhiều bệnh thấp khác nhau. Người ta quan tâm nhiều đến những bệnh nhân có các biểu hiện chồng chéo của LBH, xơ cứng bì và viêm đa cơ.

Biểu hiện thấp khớp trong ung thư

Bệnh bạch cầu tế bào tóc có thể phối hợp với viêm các mạch máu cỡ trung bình, như bệnh viêm nút đa động mạch, Bệnh bạch cầu cấp có thể gây đau khớp.

Cốt tủy viêm cấp do vi khuẩn sinh mủ

Trong số những bệnh nhân bị các bệnh huyết sắc tố, cốt tủy viêm do vi khuẩn thương hàn thường gặp gấp 10 lần so với những vi khuẩn sinh mủ khác.

Luput ban đỏ hệ thống

Luput ban đỏ hệ thống không phải là một bệnh hiếm gặp, Những số liệu điều tra tại một quần thể dân thành thị với độ đại diện cao cho thấy tỷ lệ mắc bệnh trên 1/2000 dân.

Ban xuất huyết Henoch-Schonlein

Đây là một dạng phát ban mà nguyên nhân chưa rõ; đặc trưng cơ bản về mặt giải phẫu bệnh là viêm mạch máu nhỏ. Mặc dù bệnh thường gặp ở trẻ em song người lớn cũng có thể bị.

Loạn dưỡng giao cảm phản xạ

Tiên lượng phụ thuộc một phần vào giai đoạn bệnh, những tổn thương đã xuất hiện và phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh lý nội tạng phôi hợp. Điều trị sớm, khả năng hồi phục sẽ tôt hơn.