- Trang chủ
- Thông tin
- Chẩn đoán và điều trị theo y học hiện đại
- Đau ngực từng cơn: đặc điểm đau do tim và các nguyên nhân khác
Đau ngực từng cơn: đặc điểm đau do tim và các nguyên nhân khác
Đau ngực do tim thường được mô tả điển hình là cảm giác bị siết chặt, đè nặng nhưng nhiều trường hợp khác có thể mô tả là bỏng rát. Nhiều bệnh nhân không cảm thấy đau mà chỉ là cảm giác khó chịu nếu chỉ hỏi về đau, có thể bỏ sót chẩn đoán.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Đau thắt ngực
Đau thắt ngực là biểu hiện của thiếu máu cơ tim. Nó thường được cảm nhận là cảm giác khó chịu sau xương ức có thể lan tới vai/tay trái (hoặc phải), họng, hàm, hoặc lưng. Thường được mô tả điển hình là cảm giác bị siết chặt, đè nặng nhưng nhiều trường hợp khác có thể mô tả là bỏng rát. Nhiều bệnh nhân không cảm thấy đau mà chỉ là cảm giác khó chịu - nếu chỉ hỏi về đau, có thể bỏ sót chẩn đoán.
Đau thắt ngực ổn định hầu hết là do mảng xơ vữa làm hẹp một hoặc nhiều động mạch vành. Trong trường hợp xem xét khả năng đau thắt ngực, quan trọng là phải đánh giá nguy cơ bệnh mạch vành. Tưới máu cơ tim là đủ trong lúc nghỉ ngơi nhưng không đáp ứng nhu cầu chuyển hóa khi tăng công của tim. Hậu quả là cơn đau thắt ngực có xu hướng dự báo được ở một mức gắng sức nhất định và giảm nhanh khi nghỉ ngơi và/hoặc xịt glyceryl trinitrate, cơn đau điển hình thường < 10 phút. Ít phổ biến hơn, đau thắt ngực có thể do rối loạn nhịp nhanh (đặc biệt trong bối cảnh có hẹp đáng kể động mạch vành) hoặc co thắt mạch vành nhất thời.
Ước tính khả năng bệnh mạch vành (CAD)
Nguy cơ cao
CAD được ghi nhân trước đây hoặc bệnh mạch máu khác như tai biến mạch máu não, bệnh động mạch ngoại biên;
Nam > 60 tuổi hoặc > 50 tuổi với > 2 yếu tố nguy cơ hoặc > 40 tuổi với > 3 yếu tố nguy cơ;
Nam < 60 tuổi với > 3 yếu tố nguy cơ.
Nguy cơ trung bình
Tất cả bệnh nhân không thuộc nhóm nguy cơ cao và nguy cơ thấp.
Nguy cơ thấp
Tuối < 30;
Nữ < 40 tuổi và không có yêu tố nguy cơ;
*Yếu tố nguy cơ: hút thuốc, đái tháo đường, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu (cholesterol toàn phần > 6.5 mmol/L), tiền sử gia đình CAD lúc trẻ.
Các rối loạn dạ dày-thực quản
Trào ngược dạ dày thực quản điển hình gây ra cảm giác khó chịu sau xương ức kiểu nóng, bỏng rát lan lên trên, thường thúc đẩy bởi tư thế gập xuống hoặc nằm thẳng như khi trên giường, và thường liên quan với thức ăn. Triệu chứng thuyên giảm khi dùng kháng acid. Co thắt thực quản có thể gây ra khó chịu sau xương ức dữ dội gần giống đau do tim và có thể nặng lên khi gắng sức và giảm khi dùng nitrat. Thường có tiền sử khó nuốt, khó tiêu hoặc cảm giác bỏng rát điển hình.
Những rối loạn của cơ xương
Đây là một nguyên nhân phổ biến gây khó chịu ở ngực với biểu hiện rất thay đổi; hầu hết các trường hợp là do chấn thương mô mềm nhẹ. Đau điển hình là thay đổi theo tư thế hoặc vận động và có thể đáp ứng với thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs). Viêm sụn sườn gây ra tăng cảm giác đau khu trú của khớp sụn sườn và nặng lên khi ấn tại chỗ.
Hen phế quản
Những bệnh nhân hen có thể mô tả cảm giác siết chặt ngực khi gắng sức do co thắt phế quản, có thể gây khó khăn cho việc phân biệt với đau thắt ngực. Thường có tiền sử khò khè khó thở và ho, và nặng lên bởi các nguyên nhân rõ ràng như dị ứng nguyên phổ biến, nhiễm trùng hô hấp trên do virus hơn là gắng sức.
Lo lắng
Xúc cảm là một nguyên nhân rất phổ biến của đau ngực và nhiều trường hợp nghi ngờ cơn đau thắt ngực thực ra là cơn hoảng sợ. Biểu hiện thường ít kịch tính, bệnh nhân thường mô tả cảm giác bị siết chặt ở họng, nghẹt thở và/hoặc khó thở. Có bằng chứng của tăng thông khí với cảm giác râm rang quanh miệng và đau chi, và giảm PaCO2 trên khí máu động mạch. Cơn có xu hướng nặng lên khi xúc cảm hơn là gắng sức.
Bài viết cùng chuyên mục
Chóng mặt choáng váng: phân tích đặc điểm khởi phát
Bệnh nhân choáng váng liên tục qua vài tuần hoặc choáng váng không cải thiện nếu đang tiếp tục điều trị thì không chắc bệnh nhân có chóng mặt thật sự. Do đó cần hướng đến bác sỹ tai mũi họng để đánh giá thêm.
Tiết dịch niệu đạo: phân tích triệu chứng
Tiết dịch niệu đạo có thể nhiều hoặc ít, trong, hơi vàng hoặc trắng, có mủ, mủ nhầy hoặc huyết thanh, nâu, xanh lá cây hoặc có máu, mủ chảy nước hoặc mủ đặc.
Mất thăng bằng: choáng mặt mất vững
Nhiều yếu tố góp phần gây mất thăng bằng, đặc biệt ở người già, bao gồm yếu chi, bệnh lý thần kinh cảm giác, tổn thương cảm giác bản thể, bệnh khớp, bệnh lý tổn thương thị giác và mất tự tin.
Cổ trướng: phân tích triệu chứng
Cổ trướng là do giãn động mạch ngoại vi ở bệnh nhân xơ gan, tăng áp tĩnh mạch cửa gây ra tăng áp lực xoang, gây ra sự giãn động mạch nội tạng và ngoại biên qua trung gian oxit nitric.
Táo bón: phân tích triệu chứng
Những thay đổi về kết cấu của phân, chức năng nhu động hoặc đường kính trong của đại tràng, hoặc chức năng tống xuất của trực tràng và sàn chậu có thể dẫn đến táo bón.
Phòng chống bệnh tim mạch
Phòng chống bệnh tim mạch! Yếu tố nguy cơ gồm: Rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, hút thuốc lá...Giới tính, tiền sử gia đình mắc bệnh mạch vành sớm...
Hút thuốc lá và bệnh tật
Những người hút thuốc chết sớm hơn 5, 8 năm so với người không bao giờ hút thuốc, Họ có hai lần nguy cơ bệnh tim gây tử vong, 10 lần nguy cơ ung thư phổi
Liệu pháp insulin trong điều trị đái tháo đường: tuýp 1 và tuýp 2
Liệu pháp insulin nền và liệu pháp insulin tích cực, cho bệnh nhân đái tháo đường không đạt mục tiêu đường huyết
Hỏi bệnh và thăm khám bệnh nhân béo phì
Thừa cân hoặc béo phì làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh và tử vong do tăng huyết áp, đái tháo đường týp 2, rối loạn lipid máu, bệnh động mạch vành, đột quỵ, sỏi mật, viêm xương khớp, các vấn đề về hô hấp.
Chảy máu sau mãn kinh: phân tích triệu chứng
Chảy máu âm đạo bất thường là một vấn đề ngoại trú phổ biến, xảy ra ở 10% phụ nữ trên 55 tuổi và chiếm 70% số lần khám phụ khoa trong những năm tiền mãn kinh và sau mãn kinh.
Định hướng chẩn đoán đau ngực từng cơn
Đau ngực từng cơn có thể là cơn đau thắt ngực do tim, cũng có thể do các rối loạn dạ dày thực quản, những rối loạn của cơ xương, cơn hen phế quản hoặc lo lắng.
Khối u trung thất: phân tích triệu chứng
Khi nghi ngờ hoặc phát hiện khối trung thất, kiến thức về ranh giới của các ngăn trung thất riêng lẻ và nội dung của chúng tạo điều kiện cho việc đưa ra chẩn đoán phân biệt.
Đau ngực từng cơn: những lưu ý lâm sàng trong chẩn đoán
Phải loại trừ thuyên tắc phổi ở bất kỳ bệnh nhân nào có đau kiểu màng phổi cấp tính và không có nguyên nhân nào khác rõ ràng. D-dimer âm tính cùng Wells score < 4 (đủ khả năng loại trừ chẩn đoán này).
Phòng chống loãng xương
Nguy cơ của loãng xương là gãy xương khoảng 5o phần trăm đối với phụ nữ và 30 phần trăm đối với nam giới, Loãng xương gãy xương có thể gây đau đáng kể và tàn tật
Đồng tử không đều: phân tích triệu chứng
Ở hầu hết các bệnh nhân, đồng tử không đều được phát hiện tình cờ; các triệu chứng là tương đối hiếm gặp, cần hỏi về các triệu chứng ở mắt như đau, đỏ, chảy nước mắt, sợ ánh sáng.
Khối u bìu: phân tích triệu chứng
Trong quá trình đánh giá bất kỳ khối u bìu nào, mục tiêu chính là xác định xem có chỉ định chuyển tuyến ngay lập tức hay không.
Đau khớp hông: phân tích triệu chứng
Khớp hông là một trong những khớp lớn nhất trong toàn bộ cơ thể. Nó được bao quanh bởi 17 cơ và 3 dây chằng cực kỳ chắc chắn, cung cấp cho hông rất nhiều lực và phạm vi chuyển động.
Ho: phân tích triệu chứng
Ho được kích hoạt thông qua kích hoạt cảm giác của các sợi hướng tâm trong dây thần kinh phế vị, phản xạ nội tạng này có thể được kiểm soát bởi các trung tâm vỏ não cao hơn.
Men gan tăng cao: phân tích triệu chứng
Các men gan (aminotransferase) là các enzym tế bào được tìm thấy trong tế bào gan; chúng được giải phóng vào huyết thanh do tổn thương tế bào gan, do đó làm tăng nồng độ trong huyết thanh từ mức cơ bản thấp.
Khó thở mãn tính: đánh giá triệu chứng của các bệnh lý thực thể
Tìm kiếm bằng chứng khách quan của phục hồi hoặc biến đổi đường thở để khẳng định chấn đoán: Thực hiện bởi phế dung kế sau đó yêu cầu bệnh nhân ghi lại nhật ký lưu lượng thở đỉnh. Xem xét đánh giá chuyên khoa nếu như chẩn đoán không chắc chắn.
Sốt phát ban: phân tích triệu chứng
Tiếp cận chẩn đoán phân biệt là phân biệt giữa các thực thể khác nhau gây sốt và bệnh tật bằng các loại phát ban mà chúng thường gây ra.
Viêm thận bể thận trong chẩn đoán và điều trị
Beta lactam tĩnh mạch và một thuốc nhóm Aminoglycosid là lực chọn ban đầu khi chưa có kháng sinh đồ, Ở cơ sở ngoại trú có thể điều trị bằng Trimethoprim sulfamethoxazol
Chóng mặt choáng váng: triệu chứng nghiêm trọng tiền ngất
Xem xét các cơn váng đầu có xuất hiện trong khi bệnh nhân đang đứng và có yếu tố khởi phát rõ ràng không, ví dụ như xúc cảm mạnh, tiêm tĩnh mạch, đứng lâu và/hoặc kèm theo các triệu chứng phó giao cảm như nôn, vã mồ hôi, rối loạn thị giác.
Đái máu với những điều thiết yếu
Khi không có triệu chứng nào khác, đái máu đại thể có thể có thể chỉ điểm nhiều hơn về khối u, nhưng cũng cần phân biệt với sỏi, các bệnh lý thận tiểu cầu và bệnh thận đa nang.
Shock: phân tích các bệnh cảnh lâm sàng
Nhiều biểu hiện có thể có biến chứng shock nhưng ở đây, shock được coi như là biểu hiện được phát hiện đầu tiên trong theo dõi thường ngày hoặc thăm khám có trọng tâm ở những bệnh nhân nặng hoặc không rõ ràng.
