Đi tiểu ra máu: các nguyên nhân thường gặp

2020-12-26 10:13 PM

Tiểu máu đại thể gợi ý nghĩ nhiều đến bệnh lý đường tiểu và luôn đòi hỏi phải đánh giá thêm. Tiểu máu vi thể thường tình cờ phát hiện ở bệnh nhân không có triệu chứng và thách thức nằm ở việc phân biệt các nguyên nhân lành tính với các bệnh lý nghiêm trọng.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Tiểu máu, hay máu trong nước tiểu, có thể nhìn thấy được (đại thể) hoặc không thể nhìn thấy được (vi thể), chỉ phát hiện được bằng que thử hoặc bằng kính hiển vi. Tiểu máu đại thể gợi ý nghĩ nhiều đến bệnh lý đường tiểu và luôn đòi hỏi phải đánh giá thêm. Tiểu máu vi thể thường tình cờ phát hiện ở bệnh nhân không có triệu chứng và thách thức nằm ở việc phân biệt các nguyên nhân lành tính với các bệnh lý nghiêm trọng. Tiểu máu không đau thường do ung thư hoặc lao đường tiết niệu. Điều quan trọng là cần phân biệt tiểu máu với:

Nhiễm bẩn nước tiểu ở phụ nữ hành kinh.

Tiểu đỏ.

Các khối u

60% ung thư thận và 80% ung thư bàng quang có tiểu máu. Cả hai đều hiếm gặp ở tuổi < 40. Các đặc điểm kèm theo bao gồm đau thắt lưng, khối u ổ bụng, triệu chứng toàn thân (ung thư thận) hoặc triệu chứng đường tiểu dưới (LUTS), chẳng hạn tiểu đau, tiểu nhiều lần, tiểu gấp, không tiểu được (ung thư bàng quang). Tuy nhiên, trong phần lớn các trường hợp, tiểu máu là triệu chứng duy nhất và khám lâm sàng thì bình thường. Các yếu tố nguy cơ được liệt kê. Khoảng 12% ung thư tiền liệt tuyến có biểu hiện tiểu máu (vi thể thường gặp hơn).

Sỏi

Sỏi có thể gây tắc nghẽn ở bất cứ vị trí nào dọc theo đường tiết niệu, mặc dù thường gặp ở các vị trí hẹp như chỗ nối bể thận-niệu quản, vành chậu và chỗ nối bàng quang-niệu quản. Sỏi ở bể thận và bàng quang có thể không biểu hiện triệu chứng trong nhiều năm và tiểu máu được phát hiện ngẫu nhiên bằng que thử. Tắc nghẽn niệu quản thường biểu hiện cơn đau quặn thận, đau thắt lưng nặng, cấp tính, lan xuống bẹn ± bìu, tăng dần cường độ trong vài phút, thường phối hợp với buồn nôn, nôn và bồn chồn (kích thích). Đau kéo dài cho đến khi loại bỏ được tắc nghẽn. Tiểu máu đại thể có thể xuất hiện và (+) với que thử ở 90% trường hợp.

Nhiễm trùng

Đặc điểm lâm sàng chung của nhiễm trùng đường tiểu dưới (UTI) bao gồm tiểu nhiều lần, tiểu đau tiểu gấp, nước tiểu hôi và có thể là tiểu máu đại thể hoặc là vi thể. Viêm thận bể thận thường có biểu hiện đau thắt lưng, sốt, rét run và triệu chứng toàn thân. Có khả năng là nhiễm trùng đường tiểu dưới nếu test que thử (+) với nitrite hoặc bạch cầu nhưng ít nghĩ tới nhiễm trùng đường tiểu dưới nếu cả hai đều âm tính. Sự phát triển > 10A5 vi khuẩn/ mL MSH giúp xác định chẩn đoán và cho phép làm kháng sinh đồ.

Lao tiết niệu có thể gây ra tiểu máu đại thể ± các triệu chứng đường tiểu khác/biểu hiện hô hấp/ rối loạn thể trạng. Phân tích nước tiểu có bạch cầu dương tính nhưng cấy nước tiểu âm tính. Chẩn đoán đòi hỏi phải lấy nước tiểu vào sáng sớm để tìm vi khuẩn kháng acid-cồn và cấy vi khuẩn lao. Tiểu máu đại thể không đau cuối bãi là biểu hiện đầu tiên thường gặp nhất của nhiễm Schistosoma heamatobium, thường gặp nhất ở Ai Cập/Đông Phi, chẳng hạn khi bơi trong hồ tự nhiên. Gợi ý chẩn đoán bao gồm tiền sử đi du lịch đến vùng dịch tễ và tăng bạch cầu ưa acid. Tiểu máu vi thể cũng thường gặp trong viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.

Bệnh lý thận

Tiểu máu có thể xuất hiện do các rối loạn gây tổn thương màng đáy cầu thận (viêm cầu thận). Các rối loạn đó bao gồm bệnh kháng thể kháng màng đáy cầu thận (hội chứng Goodpasture), viêm vi mạch như bệnh u hạt Wegener, viêm cầu thận sau nhiễm liên cầu, Lupus ban đỏ hệ thống và bệnh thận IgA.

Các đặc điểm kèm theo bao gồm protein niệu, tăng huyết áp, phù và suy thận. Ở bệnh thận IgA, có các đợt đái máu đại thể xuất hiện cùng với nhiễm trùng đường hô hấp trên. Chẩn đoán bệnh cầu thận dựa vào sinh thiết thận. Các bệnh thận di truyền như hội chứng Alport và bệnh thận đa nang ở người trưởng thành cũng có thể có tiểu máu.

Các nguyên nhân khác

Chấn thương: chấn thương niệu đạo trực tiếp, chấn thương bụng/ chậu kín hoặc xuyên thấu.

Do điều trị: sinh thiết thận, cắt tiền liệt tuyến qua niệu đạo, soi bàng quang, đặt sonde tiểu.

Mạch máu: dị dạng động- tĩnh mạch, huyết khối tĩnh mạch thận.

Chảy máu nội tạng.

Nang thận

Hoại tử ống thận cấp.

Bệnh màng đáy cầu thận mỏng (thường gặp, lành tính, có tính gia đình).

Hội chứng đau thắt lưng- tiểu máu.

Gắng sức quá mức, như: chạy đường dài.

Nguyên nhân đổi màu nước tiểu

Màu nâu cam

Bilirubin liên kết.

Đại hoàng, cây keo (senna).

Nước tiểu cô đặc, như do dịch đưa vào quá ít.

Màu nâu đỏ

Máu, myoglobin, haemoglobin tự do, porphyrins.

Củ dền, quả mâm xôi.

Thuốc: rifampicin, metronidazole, warfarin.

Màu đen nâu

Bilirubin liên kết.

Thuốc: L-Dopa.

Homogentisic acid (gặp ở bệnh alkaptonuria hoặc ochronosis).

Màu blue- green

Thuốc/ chất màu, như propofol, tluorescein.

Yếu tố nguy cơ của ung thư tiết niệu

Thuốc lá.

Nghề nghiệp tiếp xúc với hóa chất/màu (benzenes, amin thơm).

Triệu chứng kích thích bài tiết.

Chiếu(chụp) khung chậu trước đây.

Cyclophosphamide.

Viêm mạn, như schistosomiasis.

Bài viết cùng chuyên mục

Phù hai chi dưới (chân)

Manh mối cho thấy DVT bao gồm tiền sử ung thư, cố định chi gần đây, hoặc giam ngủ ít nhất là 3 ngày sau phẫu thuật lớn, Tìm kiếm cho cách giải thích khác

Phì đại tuyến giáp (bướu cổ): phân tích triệu chứng

Bất kỳ cản trở quá trình tổng hợp hoặc giải phóng hormone tuyến giáp đều có thể gây ra bướu cổ. Cho đến nay, yếu tố rủi ro quan trọng nhất đối với sự phát triển của bệnh bướu cổ là thiếu i-ốt.

Đau ngực, chẩn đoán và điều trị

Thiếu máu cơ tim thường được mô tả là tức nặng, đau cảm giác áp lực, thắt chặt, ép, chứ không phải là nhói sắc nét hoặc co thắt

Hôn mê: phân tích để chẩn đoán và điều trị

Hôn mê là tình trạng bất tỉnh một khoảng thời gian kéo dài được phân biệt với giấc ngủ bởi không có khả năng đánh thức bệnh nhân.

Ho ra máu, chẩn đoán và điều trị

Các động mạch phế quản xuất phát từ động mạch chủ hoặc động mạch liên sườn và mang máu dưới áp lực của hệ thống vào đường hô hấp, mạch máu, rốn phổi, và màng phổi tạng

Phát ban toàn thân cấp: đánh giá các triệu chứng lâm sàng

Nhập viện cho bất kỳ các bệnh nhân có tình trạng đỏ da nhiều, đánh giá và cần tiến hành hội chẩn da liễu ngay. Điều trị sau đó dựa vào chấn đoán chính xác và được hướng dẫn bởi đánh giá của chuyên gia da liễu.

Mất thị lực: phân tích triệu chứng

Mất thị lực có thể đột ngột hoặc dần dần, một mắt hoặc hai mắt, một phần hoặc toàn bộ và có thể là một triệu chứng đơn độc hoặc một phần của hội chứng phức tạp.

Điện tâm đồ trong viêm màng ngoài tim cấp

Không giống như nhồi máu cơ tim với ST chênh lên, ST chênh lên điển hình kéo dài trong vài ngày. Sóng T cao cùng với thay đổi ST, sau đó đảo ngược.

Khám lão khoa: điểm đặc biệt trong đánh giá người già yếu suy kiệt

Khi có thể, xem xét các yếu tố trong tiền sử bệnh nhân có tương tự với những thông tin của người chứng kiến, người chăm sóc, người thân, ghi chú của bệnh nhân hoặc các nhân viên y tế khác không.

Dị vật và trầy xước giác mạc: phân tích triệu chứng

Các vật dẫn đến dị vật giác mạc và hoặc trầy xước bao gồm cát, bụi bẩn, lá cây và các vật liệu hữu cơ cũng như tiếp xúc với các vật liệu như phoi kim loại hoặc hạt thủy tinh.

Dấu hiệu bệnh lý: các bước thăm khám và chỉ định xử trí

Nếu như có dấu hiệu suy hô hấp và tràn khí màng phổi áp lực, tiến hành chọc kim hút khí cấp cứu ngay. Nếu như ran rít khắp cả lan tỏa, kiểm tra dấu hiệu của shock phản vệ. Nếu có, xử trí theo mô tả; ngược lại tiến hành thở khí dung giãn phế quản.

Đau

Thuốc dạng thuốc phiện được chỉ định cho đau nặng mà các tác nhân kém hiệu lực hơn không thể làm giảm nhẹ đau.

Xét nghiệm Covid-19: hướng dẫn thu thập và xử lý bệnh phẩm

Đối với xét nghiệm chẩn đoán ban đầu với các trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 hiện tại, khuyến nghị nên thu thập và xét nghiệm bệnh phẩm đường hô hấp trên.

Đái máu với những điều thiết yếu

Khi không có triệu chứng nào khác, đái máu đại thể có thể có thể chỉ điểm nhiều hơn về khối u, nhưng cũng cần phân biệt với sỏi, các bệnh lý thận tiểu cầu và bệnh thận đa nang.

Nhân tuyến giáp: phân tích triệu chứng

Tiếp xúc với bức xạ ion hóa hoặc xạ trị chùm tia bên ngoài (đặc biệt là trước 20 tuổi) làm tăng tỷ lệ mắc các nhân tuyến giáp lành tính và ác tính với tỷ lệ 2% mỗi năm và đạt đỉnh 15–20 năm sau khi tiếp xúc.

Phòng ngừa khi dùng thuốc ở người cao tuổi

Bệnh nhân, hoặc người chăm sóc, mang tất cả thuốc men, mỗi khi khám lại, có thể giúp các nhà cung cấp sức khỏe củng cố lý do cho sử dụng thuốc

Ù tai: phân tích triệu chứng

Bản thân ù tai không phải là bệnh mà là triệu chứng của một số quá trình đang diễn ra khác, bệnh lý hoặc lành tính, nhiều giả thuyết đã được đề xuất về cơ chế bệnh sinh.

Gan to: phân tích triệu chứng

Gan trưởng thành bình thường có khoảng giữa xương đòn là 8–12 cm đối với nam và 6–10 cm đối với nữ, với hầu hết các nghiên cứu xác định gan to là khoảng gan lớn hơn 15 cm ở đường giữa đòn.

Khó thở: phân tích triệu chứng

Khó thở có thể là biểu hiện nhiều tình trạng, nhưng đại đa số đều có một trong năm tình trạng mãn tính, hen, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh phổi kẽ, rối loạn chức năng cơ tim, béo phì và suy nhược cơ thể.

Khó thở cấp ở những bệnh nhân bị COPD: những đánh giá bổ sung

Nếu như khò khè là chủ yếu và không có đặc điểm của nhiễm trùng, chẩn đoán có khả năng là đợt cấp COPD không do nhiễm trùng. Tìm kiếm yếu tố khởi phát, ví dụ chẹn beta, không dung nạp với khí dung/bầu hít, yếu tố khởi phát từ môi trường.

Phân mỡ: phân tích đặc điểm

Phân mỡ được định nghĩa một cách định lượng là có hơn 7g chất béo trong phân trong khoảng thời gian 24 giờ trong khi bệnh nhân đang ăn kiêng không quá 100 g chất béo mỗi ngày.

Khám lâm sàng: hướng dẫn thực hành thăm khám

Cần nâng cao sự ấn tượng về chức năng tâm thần cao hơn trong quá trình hỏi bệnh. Nếu phát hiện những bất thường liên quan khi thăm khám lâm sàng thường quy, tiến hành đánh giá chi tiết các hệ thống có liên quan.

Protein niệu: phân tích triệu chứng

Sự bài tiết liên tục albumin trong khoảng từ 30 đến 300 mg/ngày (20–200 <g/phút) được gọi là albumin niệu vi lượng, trong khi các giá trị trên 300 mg/ngày được gọi là albumin niệu đại thể.

Mệt mỏi: các biểu hiện phải phân biệt

Mệt mỏi hay thiếu năng lượng thường là lý do cho việc từ bỏ các hoạt động và đặt câu hỏi cẩn thận có thể cần thiết để phân biệt giữa giới hạn hoạt động thể lực và thiếu hứng thú, quyết tâm.

Đau ngực: phân tích triệu chứng

Nguyên nhân của đau ngực thường lành tính và không do tim, cách tiếp cận tiêu chuẩn là cần thiết, do bỏ sót một tình trạng đe dọa đến tính mạng.