- Trang chủ
- Thông tin
- Chẩn đoán và điều trị theo y học hiện đại
- Đi tiểu ra máu: các nguyên nhân thường gặp
Đi tiểu ra máu: các nguyên nhân thường gặp
Tiểu máu đại thể gợi ý nghĩ nhiều đến bệnh lý đường tiểu và luôn đòi hỏi phải đánh giá thêm. Tiểu máu vi thể thường tình cờ phát hiện ở bệnh nhân không có triệu chứng và thách thức nằm ở việc phân biệt các nguyên nhân lành tính với các bệnh lý nghiêm trọng.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Tiểu máu, hay máu trong nước tiểu, có thể nhìn thấy được (đại thể) hoặc không thể nhìn thấy được (vi thể), chỉ phát hiện được bằng que thử hoặc bằng kính hiển vi. Tiểu máu đại thể gợi ý nghĩ nhiều đến bệnh lý đường tiểu và luôn đòi hỏi phải đánh giá thêm. Tiểu máu vi thể thường tình cờ phát hiện ở bệnh nhân không có triệu chứng và thách thức nằm ở việc phân biệt các nguyên nhân lành tính với các bệnh lý nghiêm trọng. Tiểu máu không đau thường do ung thư hoặc lao đường tiết niệu. Điều quan trọng là cần phân biệt tiểu máu với:
Nhiễm bẩn nước tiểu ở phụ nữ hành kinh.
Tiểu đỏ.
Các khối u
60% ung thư thận và 80% ung thư bàng quang có tiểu máu. Cả hai đều hiếm gặp ở tuổi < 40. Các đặc điểm kèm theo bao gồm đau thắt lưng, khối u ổ bụng, triệu chứng toàn thân (ung thư thận) hoặc triệu chứng đường tiểu dưới (LUTS), chẳng hạn tiểu đau, tiểu nhiều lần, tiểu gấp, không tiểu được (ung thư bàng quang). Tuy nhiên, trong phần lớn các trường hợp, tiểu máu là triệu chứng duy nhất và khám lâm sàng thì bình thường. Các yếu tố nguy cơ được liệt kê. Khoảng 12% ung thư tiền liệt tuyến có biểu hiện tiểu máu (vi thể thường gặp hơn).
Sỏi
Sỏi có thể gây tắc nghẽn ở bất cứ vị trí nào dọc theo đường tiết niệu, mặc dù thường gặp ở các vị trí hẹp như chỗ nối bể thận-niệu quản, vành chậu và chỗ nối bàng quang-niệu quản. Sỏi ở bể thận và bàng quang có thể không biểu hiện triệu chứng trong nhiều năm và tiểu máu được phát hiện ngẫu nhiên bằng que thử. Tắc nghẽn niệu quản thường biểu hiện cơn đau quặn thận, đau thắt lưng nặng, cấp tính, lan xuống bẹn ± bìu, tăng dần cường độ trong vài phút, thường phối hợp với buồn nôn, nôn và bồn chồn (kích thích). Đau kéo dài cho đến khi loại bỏ được tắc nghẽn. Tiểu máu đại thể có thể xuất hiện và (+) với que thử ở 90% trường hợp.
Nhiễm trùng
Đặc điểm lâm sàng chung của nhiễm trùng đường tiểu dưới (UTI) bao gồm tiểu nhiều lần, tiểu đau tiểu gấp, nước tiểu hôi và có thể là tiểu máu đại thể hoặc là vi thể. Viêm thận bể thận thường có biểu hiện đau thắt lưng, sốt, rét run và triệu chứng toàn thân. Có khả năng là nhiễm trùng đường tiểu dưới nếu test que thử (+) với nitrite hoặc bạch cầu nhưng ít nghĩ tới nhiễm trùng đường tiểu dưới nếu cả hai đều âm tính. Sự phát triển > 10A5 vi khuẩn/ mL MSH giúp xác định chẩn đoán và cho phép làm kháng sinh đồ.
Lao tiết niệu có thể gây ra tiểu máu đại thể ± các triệu chứng đường tiểu khác/biểu hiện hô hấp/ rối loạn thể trạng. Phân tích nước tiểu có bạch cầu dương tính nhưng cấy nước tiểu âm tính. Chẩn đoán đòi hỏi phải lấy nước tiểu vào sáng sớm để tìm vi khuẩn kháng acid-cồn và cấy vi khuẩn lao. Tiểu máu đại thể không đau cuối bãi là biểu hiện đầu tiên thường gặp nhất của nhiễm Schistosoma heamatobium, thường gặp nhất ở Ai Cập/Đông Phi, chẳng hạn khi bơi trong hồ tự nhiên. Gợi ý chẩn đoán bao gồm tiền sử đi du lịch đến vùng dịch tễ và tăng bạch cầu ưa acid. Tiểu máu vi thể cũng thường gặp trong viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
Bệnh lý thận
Tiểu máu có thể xuất hiện do các rối loạn gây tổn thương màng đáy cầu thận (viêm cầu thận). Các rối loạn đó bao gồm bệnh kháng thể kháng màng đáy cầu thận (hội chứng Goodpasture), viêm vi mạch như bệnh u hạt Wegener, viêm cầu thận sau nhiễm liên cầu, Lupus ban đỏ hệ thống và bệnh thận IgA.
Các đặc điểm kèm theo bao gồm protein niệu, tăng huyết áp, phù và suy thận. Ở bệnh thận IgA, có các đợt đái máu đại thể xuất hiện cùng với nhiễm trùng đường hô hấp trên. Chẩn đoán bệnh cầu thận dựa vào sinh thiết thận. Các bệnh thận di truyền như hội chứng Alport và bệnh thận đa nang ở người trưởng thành cũng có thể có tiểu máu.
Các nguyên nhân khác
Chấn thương: chấn thương niệu đạo trực tiếp, chấn thương bụng/ chậu kín hoặc xuyên thấu.
Do điều trị: sinh thiết thận, cắt tiền liệt tuyến qua niệu đạo, soi bàng quang, đặt sonde tiểu.
Mạch máu: dị dạng động- tĩnh mạch, huyết khối tĩnh mạch thận.
Chảy máu nội tạng.
Nang thận
Hoại tử ống thận cấp.
Bệnh màng đáy cầu thận mỏng (thường gặp, lành tính, có tính gia đình).
Hội chứng đau thắt lưng- tiểu máu.
Gắng sức quá mức, như: chạy đường dài.
Nguyên nhân đổi màu nước tiểu
Màu nâu cam
Bilirubin liên kết.
Đại hoàng, cây keo (senna).
Nước tiểu cô đặc, như do dịch đưa vào quá ít.
Màu nâu đỏ
Máu, myoglobin, haemoglobin tự do, porphyrins.
Củ dền, quả mâm xôi.
Thuốc: rifampicin, metronidazole, warfarin.
Màu đen nâu
Bilirubin liên kết.
Thuốc: L-Dopa.
Homogentisic acid (gặp ở bệnh alkaptonuria hoặc ochronosis).
Màu blue- green
Thuốc/ chất màu, như propofol, tluorescein.
Yếu tố nguy cơ của ung thư tiết niệu
Thuốc lá.
Nghề nghiệp tiếp xúc với hóa chất/màu (benzenes, amin thơm).
Triệu chứng kích thích bài tiết.
Chiếu(chụp) khung chậu trước đây.
Cyclophosphamide.
Viêm mạn, như schistosomiasis.
Bài viết cùng chuyên mục
Phì đại tuyến vú ở nam giới: phân tích triệu chứng
Vú nam bao gồm một lượng tối thiểu các mô mỡ và tuyến. Tỷ lệ estrogen-testosterone bị thay đổi ở nam giới có thể dẫn đến chứng vú to ở nam giới, hoặc sự tăng sinh của mô tuyến vú.
Mê sảng: phân tích để chẩn đoán và điều trị
Cơ chế sinh học thần kinh của mê sảng chưa được hiểu rõ, nhưng một giả thuyết bao gồm mối quan hệ với hoạt động giảm acetycholine.
Điểm mù thị giác: phân tích triệu chứng
Điểm mù thị giác có thể được phân loại theo vị trí của nó trong trường thị giác, điểm mù thị giác trung tâm và điểm mù thị giác ngoại vi.
Đau khớp: phân tích triệu chứng
Đau khớp có thể là biểu hiện của nhiều nguyên nhân, bao gồm chấn thương cơ học đối với khớp, bệnh thoái hóa khớp, viêm xương khớp, nhiễm trùng và viêm cục bộ hoặc toàn thân.
Triệu chứng và dấu hiệu bệnh mắt
Tiết tố mủ thường do nhiễm vi khuẩn ở kết mạc, giác mạc hoặc túi lệ. Viêm kết mạc hoặc viêm giác mạc do vi rút gây tiết tố nước.
Mệt mỏi: các biểu hiện phải phân biệt
Mệt mỏi hay thiếu năng lượng thường là lý do cho việc từ bỏ các hoạt động và đặt câu hỏi cẩn thận có thể cần thiết để phân biệt giữa giới hạn hoạt động thể lực và thiếu hứng thú, quyết tâm.
Đánh trống ngực hồi hộp
Mặc dù bệnh nhân mô tả bằng vô số cách, hướng dẫn bệnh nhân mô tả cẩn thận về đánh trống ngực của họ có thể chỉ ra một cơ chế và thu hẹp chẩn đoán phân biệt.
Táo bón: phân tích triệu chứng
Những thay đổi về kết cấu của phân, chức năng nhu động hoặc đường kính trong của đại tràng, hoặc chức năng tống xuất của trực tràng và sàn chậu có thể dẫn đến táo bón.
Mệt mỏi: đánh giá các nguyên nhân tinh thần và thể chất
Bệnh sử khai thác cẩn thận có thể cho thấy rằng vấn đề thực tế không chỉ là mệt mỏi, chẳng hạn hụt hơi, nên được tiếp tục kiểm tra. Nếu có các đặc điểm khu trú hoặc đặc hiệu hơn, chẳng hạn ho ra máu, sốt, vàng da lộ rõ, nên được tập trung đánh giá đầu tiên.
Đau ngực, chẩn đoán và điều trị
Thiếu máu cơ tim thường được mô tả là tức nặng, đau cảm giác áp lực, thắt chặt, ép, chứ không phải là nhói sắc nét hoặc co thắt
Phòng chống lạm dụng rượu và ma túy bất hợp pháp
Phòng chống lạm dụng rượu và ma túy bất hợp pháp! Tỷ lệ lạm dụng có vẻ cao hơn ở nam giới, người da trắng, thanh niên chưa lập gia đình và cá nhân...
Định hướng chẩn đoán chảy máu trực tràng
Phần lớn bệnh nhân xuất huyết đường tiêu hóa dưới là lành tính, bệnh nhân xuất huyết trực tràng cấp tính, đánh giá mức độ xuất huyết và tiến hành đầy đủ các bước cấp cứu trước khi chẩn đoán chính xác.
Yếu chi: đánh giá triệu chứng trên bệnh cảnh lâm sàng
Yếu chi một bên có thể do nhiều nguyên nhân không đột quỵ gây ra và không nên vội vàng lờ đi các nguyên nhân này để có thể kiểm soát thích hợp.
Chảy máu sau mãn kinh: phân tích triệu chứng
Chảy máu âm đạo bất thường là một vấn đề ngoại trú phổ biến, xảy ra ở 10% phụ nữ trên 55 tuổi và chiếm 70% số lần khám phụ khoa trong những năm tiền mãn kinh và sau mãn kinh.
Thiếu máu: phân tích triệu chứng
Thiếu máu chỉ là một triệu chứng của bệnh chứ không phải bản thân bệnh. Bất cứ khi nào thiếu máu được tìm thấy, nguyên nhân phải được tìm kiếm.
Mất ý thức thoáng qua: phân tích triệu chứng lâm sàng
Xem như là mất ý thức thoáng qua nếu nhân chứng xác định có một khoảng thời gian không có đáp ứng, bệnh nhân mô tả thức dậy hoặc tỉnh lại trên mặt đất, đặc biệt không có ký ức về việc té ngã gì trước đó, hoặc có tổn thương mặt.
Rối loạn thăng bằng: các nguyên nhân cảm giác mất thăng bằng
Sự cân bằng đòi hỏi tín hiệu vào từ nhiều bộ phận cảm thụ cảm giác (thị giác, tiền đình, xúc giác, cảm giác bản thể). Giảm chức năng nhi ều hơn một trong các bộ phận này, dù rất nhỏ cũng có thể gây mất thăng bằng.
Phù hai chi dưới (chân)
Manh mối cho thấy DVT bao gồm tiền sử ung thư, cố định chi gần đây, hoặc giam ngủ ít nhất là 3 ngày sau phẫu thuật lớn, Tìm kiếm cho cách giải thích khác
Đau vùng chậu mãn tính: phân tích triệu chứng
Bất kỳ cấu trúc giải phẫu nào ở bụng hoặc xương chậu đều có thể góp phần gây ra đau vùng chậu mãn tính, sẽ rất hữu ích nếu cố gắng phân loại cơn đau là do phụ khoa hay không.
Nốt phổi đơn độc: phân tích triệu chứng
Nốt phổi đơn độc được coi là một nốt mờ trên phim X quang đơn độc có hình cầu và giới hạn rõ, đường kính nhỏ hơn 3 cm, bao quanh bởi phổi và không kèm theo xẹp phổi, phì đại rốn phổi hoặc tràn dịch màng phổi.
Đau bụng cấp: triệu chứng kèm các dấu hiệu cảnh báo
Xét nghiệm bổ sung thường được yêu cầu ở bệnh nhân > 45 tuổi có triệu chứng mới khởi phát, sụt cân, suy sụp hoặc xét nghiệm sàng lọc bất thường.
Đau đầu: chọc dịch não tủy và phân tích dịch não tủy đánh giá
Viêm màng nào do vi khuẩn sớm có thể nhầm lẫn với viêm màng não do virus bởi tăng bạch cầu lympho là chủ yếu trong dịch não tủy. Nếu có bất kỳ khả năng nào của viêm màng não do vi khuẩn, điều trị kháng sinh trong lúc đợi xét nghiệm bổ sung.
Ngứa da: phân tích triệu chứng
Nhiều bệnh ngoài da có biểu hiện ngứa cục bộ hoặc toàn thân, bao gồm viêm da tiếp xúc, viêm da dạng herpes, viêm da dị ứng, bệnh móng chân, pemphigoid bọng nước, nấm mycosis và bệnh vẩy nến.
Đau đầu: đánh giá bệnh cảnh lâm sàng
Loại trừ xuất huyết dưới nhện ở bất kỳ bệnh nhân nào có đau đầu dữ dội lần đầu tiên hay là đau đầu nặng nhất họ từng trải qua mà đạt đỉnh trong 5 phút từ lúc khới phát và dai dẳng hơn 1 giờ.
Phù chân: đánh giá dựa trên kết quả lâm sàng và cận lâm sàng
Cân nhắc huyết khối tĩnh mạch sâu ở bất kỳ bệnh nhân nào có phù chân cả hai bên, kể cả khi các yếu tố nguy cơ hoặc những triệu chứng/ dấu chứng khác không rõ ràng.
