- Trang chủ
- Thông tin
- Chẩn đoán và điều trị theo y học hiện đại
- Chảy máu trực tràng: đánh giá tình trạng lâm sàng
Chảy máu trực tràng: đánh giá tình trạng lâm sàng
Chẩn đoán xuất huyết tiêu hóa thấp ở bệnh nhân không có rối loạn huyết động tuy nhiên cần phải nghi ngờ xuất huyết tiêu hóa cao nếu có các đặc điểm của shock giảm thể tích.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Chảy máu trực tràng cấp tính
Bất cứ trường hợp đại tiện phân đỏ tươi hoặc nâu lượng nhiều, kéo dài và tiếp tục mất máu trong vòng 24h trở lại xem như là chảy máu trực tràng cấp tính. Đánh giá bệnh nhân đại tiện phân đen giống như cách đánh giá ở bệnh nhân nôn ra máu. Nếu triệu chứng nổi trội là tiêu chảy phân máu, đánh giá như đã trình bày trong tiêu chảy. Nếu không có chảy máu cấp tính, tiến đến bước sau.
Bệnh nhân có cần được hồi sức
Tiến hành các biện pháp hồi sức đầy đủ là ưu tiên hàng đầu. Đánh giá và tiến hành các bước hồi sức cho bệnh nhân.
Nghi ngờ xuất huyết tiêu hóa cao
Ban đầu, xem như đại tiện phân đen là triệu chứng phản ánh xuất huyết tiêu hóa cao và lượng giá bệnh nhân như đã đề cập ở nôn ra máu.
Tình trạng chảy máu nhanh, ồ ạt ở đường tiêu hóa trên có thể gây đại tiện phân đỏ tươi và nó thể hiện mức độ chảy máu nặng, có thể gây nguy hiểm tới tính mạng. Chẩn đoán là khá đơn giản nếu có cả nôn ra máu phối hợp tuy nhiên sự thận trọng trong chẩn đoán là cần thiết. Chẩn đoán xuất huyết tiêu hóa thấp ở bệnh nhân không có rối loạn huyết động tuy nhiên cần phải nghi ngờ xuất huyết tiêu hóa cao nếu có các đặc điểm của shock giảm thể tích. Nếu có shock, hỏi kết quả nội soi trước đây và cân nhắc nội soi đường tiêu hóa trên như là thăm dò đầu tiên sau khi đã hồi sức cho bệnh nhân, đặc biệt nếu có bất cứ triệu chứng tiêu hóa trên nào, ví dụ đau thượng vị hoặc đã có tiền sử/nghi ngờ varices thực quản.
Chảy máu có dấu hiệu nguy hiểm
Cân nhắc điều trị ngoại trú hoặc cho xuất viện sớm nếu bệnh nhân không có dấu hiệu nguy hiểm, đặc biệt nếu có bằng chứng của bệnh lý lành tính ở hậu môn.
Cho nhập viện đối với bất cứ bệnh nhân nào có các dấu hiệu nguy hiểm do chảy máu không kiểm soát được hoặc chảy máu tái phát. Khi đã hồi sức đầy đủ cho bệnh nhân và lâm sàng ổn định, tiến hành làm các xét nghiệm hình ảnh học để xác định vị trí và nguyên nhân chảy máu - thường là nội soi đại tràng hoặc CT mạch máu.
Lưu ý các bệnh lý ngoại khoa cấp cứu ở các bệnh nhân vẫn còn tiếp tục chảy máu, rối loạn huyết động mặc dù đã tiến hành hồi sức và truyền dịch đầy đủ.
Yếu tố nguy cơ bệnh lý đại trực tràng
Chuyển bệnh nhân đi làm các xét nghiệm thăm dò nguyên nhân của xuất huyết tiêu hóa thấp cấp tính (thường là nội soi đại tràng) để loại trừ ung thư đại trực tràng nếu bệnh nhân có bất cứ đặc điểm nào.
Cũng cần cân nhắc nội soi đường tiêu hóa dưới nếu bệnh nhân có:
Đặc điểm toàn thân/ ngoài đường tiêu hóa của bệnh lý viêm đường ruột.
Tiền sử chiếu xạ ở khung chậu.
Chảy máu mới khởi phát, chảy máu dai dẳng ở bệnh nhân > 50 tuổi hoặc có tiền sử gia đình bị ung thư đại trực tràng, ví dụ có họ hàng được chẩn đoán ung thư đại trực tràng lúc < 45 tuổi.
Đặc điểm lâm sàng bệnh lý ở hậu môn
Thăm trực tràng cẩn thận và nội soi đại trực tràng ở mọi bệnh nhân để tìm kiếm bệnh lý ở hậu môn. Nếu phát hiện bệnh lý ở đây, trấn an bệnh nhân tuy nhiên cần theo dõi ngoại trú bệnh nhân nếu còn nghi ngờ chẩn đoán hoặc triệu chứng dai dẳng dù đã điều trị bảo tồn.
Tiến hành các thăm dò chuyên sâu và/hoặc chuyển bệnh nhân nếu không thể tìm ra nguyên nhân và bệnh nhân vẫn chảy máu dai dẳng hoặc tái diễn.
Dấu hiệu nguy hiểm của xuất huyết tiêu hóa thấp
Rối loạn huyết động.
Haematocrit < 35% hoặc cần truyền hồng cầu khối.
Thăm trực tràng thấy máu đỏ tươi.
INR > 1.4 hoặc sử dụng aspirin /NSAIDs gần đây.
Có bệnh kèm cần lưu ý, ví dụ tâm phế mạn, suy gan, suy thận hoặc bệnh nhân đang điều trị nội trú tại bệnh viện.
> 6 0 tuổi.
Đặc điểm nguy cơ cao bị ung thư đại trực tràng ở bệnh nhân chảy máu trực tràng
Chảy máu > 6 tuần với thay đổi thói quen đại tiện (đại tiện thường xuyên hơn hoặc táo bón).
Khối u sờ thấy được ở trực tràng hoặc ổ bụng.
Sụt cân nhiều ví dụ > 6 kg.
Đã phẫu thuật ung thư đại trực tràng trước đây.
> 60 tuổi và không có triệu chứng ở hậu môn, ví dụ khó chịu, ngứa rát, u hoặc sa búi trĩ.
Bài viết cùng chuyên mục
Định hướng chẩn đoán đau ngực cấp
Mục đích chủ yếu là để nhận diện hội chứng vành cấp và những nguyên nhân đe dọa mạng sống khác như bóc tách động mạch chủ và thuyên tắc phổi.
Tím tái: phân tích triệu chứng
Tím tái xuất hiện khi nồng độ hemoglobin khử trong các mô da vượt quá 4 g/dL, tím tái được phân loại là trung ương hoặc ngoại vi dựa trên sự bất thường cơ bản.
Khó thở cấp ở những bệnh nhân bị COPD: những đánh giá bổ sung
Nếu như khò khè là chủ yếu và không có đặc điểm của nhiễm trùng, chẩn đoán có khả năng là đợt cấp COPD không do nhiễm trùng. Tìm kiếm yếu tố khởi phát, ví dụ chẹn beta, không dung nạp với khí dung/bầu hít, yếu tố khởi phát từ môi trường.
Tim to: phân tích triệu chứng
Tim to là do quá tải áp lực và phì đại cơ của một hoặc nhiều buồng tim, quá tải thể tích với sự giãn nở của các buồng tim hoặc bệnh cơ tim.
Đau bắp chân: phân tích triệu chứng
Thông tin thích hợp bao gồm vị trí chính xác của cơn đau, cũng như chất lượng, mức độ nghiêm trọng, thời gian kéo dài và các yếu tố làm trầm trọng thêm hoặc giảm nhẹ.
Đau thắt ngực từng cơn: đánh giá triệu chứng đau ngực
Nhiều bệnh nhân không thể chẩn đoán chắc chắn. Đánh giá lại những bệnh nhân mà xét nghiệm không đi đến kết luận đau thắt ngực hoặc nguy cơ cao bệnh mạch vành nếu triệu chứng dai dẳng.
Các biểu hiện thường gặp trong bệnh nội tiết
Gen gây béo sản xuất ra leptin, một cytokin do các tế bào mỡ tiết ra nhằm đối phó với sự cất giữ chất mỡ. Khi béo lên, leptin sẽ tác động đến vùng dưới đồi
Chóng mặt choáng váng: triệu chứng nghiêm trọng tiền ngất
Xem xét các cơn váng đầu có xuất hiện trong khi bệnh nhân đang đứng và có yếu tố khởi phát rõ ràng không, ví dụ như xúc cảm mạnh, tiêm tĩnh mạch, đứng lâu và/hoặc kèm theo các triệu chứng phó giao cảm như nôn, vã mồ hôi, rối loạn thị giác.
Mất ý thức thoáng qua: phân tích triệu chứng lâm sàng
Xem như là mất ý thức thoáng qua nếu nhân chứng xác định có một khoảng thời gian không có đáp ứng, bệnh nhân mô tả thức dậy hoặc tỉnh lại trên mặt đất, đặc biệt không có ký ức về việc té ngã gì trước đó, hoặc có tổn thương mặt.
Đau mắt đỏ: phân tích triệu chứng
Nguyên nhân chính của đau mắt đỏ là do nhiễm trùng hoặc chấn thương đối với các cấu trúc giải phẫu khác nhau của mắt, bệnh mô liên kết hoặc bệnh mắt nguyên phát cũng có thể biểu hiện bằng mắt đỏ.
Tiếng thổi tâm thu: phân tích triệu chứng khi nghe tim
Tiếng thổi tâm thu xảy ra trong giai đoạn co bóp của tim (tâm thu) xảy ra giữa S1, đóng van hai lá và van ba lá, và S2, đóng van động mạch chủ và động mạch phổi.
Mề đay: phân tích triệu chứng
Mề đay được phân loại là miễn dịch, không miễn dịch hoặc vô căn. Globulin miễn dịch loại I hoặc loại III Các phản ứng qua trung gian E là nguyên nhân chính gây mày đay cấp tính.
Đổ mồ hôi đêm: phân tích triệu chứng để chẩn đoán và điều trị
Đổ mồ hôi ban đêm có thể là một phản ứng tự chủ, đại diện cho một triệu chứng khá không đặc hiệu khiến bác sĩ lâm sàng phải tìm kiếm nguyên nhân cụ thể.
Vàng da: phân tích triệu chứng
Bilirubin được hình thành chủ yếu thông qua sự phân hủy trao đổi chất của các vòng heme, chủ yếu là từ quá trình dị hóa của các tế bào hồng cầu.
Tiếng thở rít: phân tích triệu chứng
Thở rít thì hít vào, cho thấy có tắc nghẽn ở hoặc trên thanh quản, thở rít hai pha với tắc nghẽn tại hoặc dưới thanh quản, thở khò khè gợi ý tắc khí quản xa hoặc phế quản gốc.
Ho ra máu: phân tích triệu chứng
Bất kể tỷ lệ là bao nhiêu, bước đầu tiên trong đánh giá là phân biệt xem bệnh nhân có ho ra máu thực sự hay chảy máu từ nguồn khác, ví dụ: nôn ra máu hoặc ho giả ra máu.
Rối loạn cương dương: phân tích triệu chứng
Rối loạn cương dương, trước đây thường được gọi là bất lực, được định nghĩa là không có khả năng đạt được hoặc duy trì sự cương cứng đủ để giao hợp, về bản chất là một chẩn đoán do bệnh nhân xác định.
Bệnh nhân hen phế quản cấp: những đánh giá bổ sung khi thăm khám
Đặc điểm cần quan tâm, ví dụ hen gần tử vong trước đó, kém dung nạp điều trị. Nếu như những đặc điểm nặng vẫn tiếp tục, theo dõi ở môi trường chăm sóc tích cực với đánh giá lặp lại với các chỉ số SpO2, PEFR.
Tương quan bệnh học lâm sàng về dinh dưỡng
Có vô số sự thiếu hụt vitamin và nguyên tố vi lượng, và việc mô tả chúng nằm ngoài phạm vi, tuy nhiên, có một số điều đáng xem xét.
Đau đầu: đánh giá bệnh cảnh lâm sàng
Loại trừ xuất huyết dưới nhện ở bất kỳ bệnh nhân nào có đau đầu dữ dội lần đầu tiên hay là đau đầu nặng nhất họ từng trải qua mà đạt đỉnh trong 5 phút từ lúc khới phát và dai dẳng hơn 1 giờ.
Sưng khớp: đánh giá bệnh cảnh lâm sàng
Nếu nguyên nhân tại khớp thường gây sưng, nóng, đau nhiều hơn và giới hạn vận động khớp cả các động tác chủ động và thụ động. Viêm bao hoạt dịch là nguyên nhân thường gặp nhất gây ra bởi các hoạt động lặp đi lặp lại.
Tốc độ máu lắng và Protein phản ứng C: phân tích triệu chứng
ESR và CRP hiện là các chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất về phản ứng protein giai đoạn cấp tính được sử dụng để phát hiện các bệnh liên quan đến nhiễm trùng cấp tính và mãn tính, viêm nhiễm, chấn thương, phá hủy mô, nhồi máu và ung thư tiên tiến.
Chẩn đoán bệnh lý: chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt
Trong phần lớn các trường hợp, việc xây dựng chẩn đoán phân biệt là bước nền tảng để đi đến chẩn đoán xác định. Đây là một chuỗi các chẩn đoán thường được sắp xếp theo thứ tự khả năng tùy theo bệnh cảnh lâm sàng.
Phân tích triệu chứng sốt để chẩn đoán và điều trị
Sốt được định nghĩa là sự gia tăng nhiệt độ trung tâm của cơ thể trên mức bình thường hàng ngày đối với một cá nhân.
Thăm khám lâm sàng vùng bìu: những điểm cần chú ý
Ở những bệnh nhân có khối sưng viêm/đau hoặc đau vùng bìu cấp tính thì hay kiểm tra phản xạ da bìu, bình thường tinh hoàn bên phía đó sẽ được cơ bìu nâng lên.
