- Trang chủ
- Thông tin
- Chẩn đoán và điều trị theo y học hiện đại
- Định hướng chẩn đoán khó nuốt
Định hướng chẩn đoán khó nuốt
Bệnh nhân với khó nuốt cần loại trừ các bệnh lý nghiêm trọng, trừ khi tiền sử chỉ ra vấn đề miệng hầu, kiểm tra thực quản để loại trừ tắc nghẽn cơ học.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Bệnh nhân với khó nuốt cần được đánh giá một cách nhanh chóng để loại trừ các bệnh lý nghiêm trọng. Trừ khi tiền sử chỉ ra rõ ràng một vấn đề về miệng hầu, kiểm tra thực quản là cần thiết để loại trừ tắc nghẽn cơ học, đặc biệt là bệnh ác tính.
Khó nuốt miệng hầu
Liệt hành não
Liệt neuron vận động dưới của dây thần kinh sọ IX-XII dẫn đến yếu lưỡi và cơ nhai/nuốt. Lưỡi mềm nhũn với rung giật bó cơ, thường kèm thay đổi giọng nói. Nguyên nhân bao gồm bệnh neuron vận động (MND) và u cuống não hoặc nhồi máu.
Liệt giả hành tủy
Tổn thương neuron vận động trên của dây thần kinh sọ IX-XII hai bên dẫn đến cơ lưỡi và hầu nhỏ, co rút và cử động chậm với giật cằm nhanh. Điều này có thể liên quan với rối loạn giọng nói và cảm xúc không ổn định. Nguyên nhân bao gồm bệnh mạch máu não, thoái hóa myeline và MND.
Nhược cơ
Mỏi cơ miệng hầu gây tăng khó nuốt sau vài lần nuốt đầu tiên. Khó nuốt xuất hiện trước các đặc điểm khác của nhược cơ là khá rõ ràng.
Túi thừa hầu họng
Túi thừa được tạo ra bởi thoát vị màn hầu qua cơ nhẫn hầu, và thường được thấy ở bệnh nhân lớn tuổi. Bên cạnh khó nuốt, có thể có trớ thức ăn chưa tiêu, hôi miệng, cảm giác có khối ở cổ và tiếng ọc ạch sau khi nuốt chất lỏng.
Bệnh Parkinson và đột quỵ
Nguyên nhân này thường gây khó nuốt tuy nhiên các đặc điểm khác thường nổi trội hơn.
Tiết nước bọt không tương thích
Tiết nước bọt không tương thích như kháng cholinergic, bệnh mô liên kết, như hội chứng Sjögren, có thể đẫn đến vấn đề về tạo khối thức ăn có thể kiểm soát được trong quá trình nuốt.
Các nguyên nhân khác
Bao gồm bệnh lý cơ, loạn dưỡng trương lực cơ và u hầu họng hoặc thanh quản.
Khó nuốt thực quản (cấu trúc)
Cả bệnh cấu trúc và rối loạn vận động đều có thể gây khó nuốt. Nguyên nhân cấu trúc thường gây khó nuốt với thức ăn rắn; rối loạn vận động có thể gây khó nuốt với cả thức ăn rắn và chất lỏng.
Tắc nghẽn ác tính
Bệnh nhân với ung thư thực quản thường biểu hiện với khó nuốt tiến triển, không đau với thức ăn rắn. Sụt cân có thể được ghi nhận đặc biệt trong những trường hợp phát hiện muộn. Suy nhược và bệnh lý hạch bạch huyết gợi ý nhưng có thể không có các dấu hiệu thực thể khi thăm khám.
Tắc nghẽn lành tính
Thường gặp nhất, tắc nghẽn lành tính do trào ngược dạ dày thực quản, đặc biệt ở người già. Nguyên nhân hiếm hơn bao gồm màng thực quản (gặp trong thiếu sắt), vòng Schatzki (hẹp lành tính vô căn của đoạn dưới thực quản), nuốt các chất ăn mòn, viêm thực quản ái toan, khối u lành tính và liệu pháp tia xạ.
Tắc nghẽn khối thức ăn
Khởi phát đột ngột với khó nuốt hoàn toàn, thường không thể nuốt ngay cả nước bọt.
Đè ép từ bên ngoài
Ung thư phổi, bướu giáp, hạch trung thất, nhĩ trái lớn hoặc phình động mạch chủ ngực có thể, mặc dù hiếm, gây khó nuốt do đè ép thực quản.
Khó nuốt thực quản (rối loạn vận động)
Co thắt thực quản (Achalasia)
Đây là một rối loạn hiếm gặp đặc trưng bởi mất nhu động đoạn xa thực quản và không thể dãn cơ vòng dưới thực quản. Khó nuốt khởi phát chậm (thường là hàng năm), xuất hiện với thức ăn lỏng và rắn, và có thể bắt đầu không liên tục. Khó chịu sau xương ức và tiếng ọc ạch là thường thấy.
Bệnh Chagas
Bệnh Chagas có thể biểu hiện bởi co thắt thực quản; cân nhắc nó khi bệnh nhân có nguồn gốc từ vùng dịch tễ ở Nam Mỹ và xác định bằng xét nghiệm huyết thanh học.
Xơ cứng bì
Tổn thương thực quản gặp trong khoảng 90% trường hợp; mất nhu động thực quản do sự thay thế mô cơ bởi mô xơ và trào ngược dạ dày thực quản nặng do rối loạn chức năng cơ vòng dưới thực quản. Các đặc điểm khác của xơ cứng bì như lắng đọng calci, bệnh Raynaud, dãn mạch có thể biểu hiện rõ ràng.
Co thắt thực quản lan tỏa
Có thể gây ra những đợt khó nuốt thoáng qua, mặc dù các đợt đau với tính chất tương tự cơn đau thắt ngực thường là triệu chứng ưu thế.
Bài viết cùng chuyên mục
Phosphatase kiềm tăng cao: phân tích triệu chứng
ALP huyết thanh chỉ nên được chỉ định nếu nghi ngờ có bệnh về xương hoặc gan. Kết quả ALP nên được so sánh với phạm vi bình thường phù hợp trên cơ sở tuổi tác và tiền sử lâm sàng.
Đau vai: phân tích triệu chứng
Không thể đánh giá các quá trình bệnh lý một cách riêng biệt vì mối quan hệ phức tạp của đai vai với các cấu trúc khác. Vai bao gồm ba xương và bốn bề mặt khớp.
Đau nhiều cơ: phân tích triệu chứng
Một số tình trạng có thể dẫn đến đau đa cơ. Các nguyên nhân phổ biến nhất là đau đa cơ do thấp khớp và các tình trạng viêm. Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân chính xác là không rõ.
Chứng khó nuốt: phân tích triệu chứng
Rối loạn chuyển thức ăn qua cơ vòng thực quản trên gây các triệu chứng ở hầu họng, và rối loạn nhu động hoặc cản trở dòng thức ăn qua thực quản gây khó nuốt ở thực quản.
Chứng rậm lông: phân tích triệu chứng
Rậm lông có thể báo hiệu một rối loạn bệnh lý và cũng có tác động tiêu cực đến lòng tự trọng của bệnh nhân, vì vậy việc nhận biết nguyên nhân và đánh giá tình trạng này là rất quan trọng.
Định hướng chẩn đoán khó thở
Khi đánh giá bệnh nhân bị khó thở, nhớ rằng mức độ nặng của chúng có tính chủ quan cao, có thể không cảm thấy có chút khó thở nào mặc dù có sự rối loạn trao đổi khí nặng.
Vàng da: đánh giá cận lâm sàng theo bệnh cảnh lâm sàng
Cân nhắc huyết tán ở những bệnh nhân vàng da mà không có đặc điểm bệnh gan kèm theo và có các bằng chứng của tăng phá vỡ hồng cầu, bất thường về hình ảnh hồng cầu (mảnh vỡ hồng cầu), có thể có bằng chứng tăng sản xuất hồng cầu.
Mụn nước và bọng nước: phân tích triệu chứng
Có nhiều nguyên nhân chúng bao gồm nhiễm herpes simplex, chàm tổ đỉa và viêm da tiếp xúc, các nguyên nhân tự miễn dịch như pemphigoid bọng nước và bệnh ly biểu bì bóng nước.
Thăm khám tình trạng bệnh nhân kèm theo các dấu hiệu cấp cứu
Trong thăm khám tình trạng kèm theo các dấu hiệu cấp cứu, ghi lại tiền sử từ bệnh nhân, người thân của bệnh nhân, nhân viên khoa cấp cứu hoặc những người xung quanh.
Thiếu máu: phân tích triệu chứng
Thiếu máu chỉ là một triệu chứng của bệnh chứ không phải bản thân bệnh. Bất cứ khi nào thiếu máu được tìm thấy, nguyên nhân phải được tìm kiếm.
Đau ngực, chẩn đoán và điều trị
Thiếu máu cơ tim thường được mô tả là tức nặng, đau cảm giác áp lực, thắt chặt, ép, chứ không phải là nhói sắc nét hoặc co thắt
Định hướng chẩn đoán tình trạng chóng mặt choáng váng
Đánh giá choáng váng nằm ở chỗ xác định bản chất chính xác các triệu chứng của bệnh nhân, thỉnh thoảng, thay đổi ý thức thoáng qua hay khiếm khuyết thần kinh khu trú được mô tả như là choáng váng.
Viêm thận bể thận trong chẩn đoán và điều trị
Beta lactam tĩnh mạch và một thuốc nhóm Aminoglycosid là lực chọn ban đầu khi chưa có kháng sinh đồ, Ở cơ sở ngoại trú có thể điều trị bằng Trimethoprim sulfamethoxazol
Khối u ở vú: phân tích triệu chứng
Đánh giá khối u ở vú nên bắt đầu bằng việc hỏi bệnh sử đầy đủ và khám thực thể. Điều quan trọng là phải xác định nguy cơ mắc bệnh ung thư vú của bệnh nhân.
Trầm cảm: phân tích để chẩn đoán và điều trị
Để được chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm, bệnh nhân phải trải qua năm triệu chứng trở lên và phải có tâm trạng chán nản và hoặc giảm hứng thú trong 2 tuần.
Rối loạn lưỡng cực: phân tích để chẩn đoán và điều trị
Nguyên nhân chính xác của rối loạn lưỡng cực vẫn chưa được biết, nhưng các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội đều đóng một vai trò quan trọng.
Đánh trống ngực: đánh giá dựa trên loại rối loạn nhịp tim
Đánh giá tần suất và cường độ của các triệu chứng và ảnh hưởng lên nghề nghiệp và lối sống. Xác minh hiệu quả và tác dụng phụ của những đợt điều trị trước.
Sốt: đánh giá dấu hiệu triệu chứng và các yếu tố nguy cơ
Mở rộng tầm soát nhiễm trùng ở các bệnh nhân đặc biệt. Các chủng tác nhân hiện hành thường gặp như viêm phổi có thể khác nhau tùy theo dịch tễ từng vùng, do đó hội chấn với chuyên gia truyền nhiễm ngay ở giai đoạn ban đầu.
Đau bụng mạn tính (từng giai đoạn): đặc điểm từng bệnh lý cụ thể
Đau bụng mạn tính là đau tồn tại trong hơn sáu tháng và xảy ra không có bằng chứng của một rối loạn về thể chất cụ thể. Nó cũng không liên quan đến các chức năng của cơ thể (chẳng hạn như kinh nguyệt, nhu động ruột hoặc ăn uống), thuốc hoặc độc tố.
Khối u bìu: phân tích triệu chứng
Trong quá trình đánh giá bất kỳ khối u bìu nào, mục tiêu chính là xác định xem có chỉ định chuyển tuyến ngay lập tức hay không.
Tâm trạng lo lắng: phân tích để chẩn đoán và điều trị
Nhiều yếu tố góp phần vào sự lo lắng, bao gồm di truyền, tiền sử gia đình, các yếu tố gây căng thẳng, các nguồn đối phó, các bệnh kèm theo.
Protein niệu: phân tích triệu chứng
Sự bài tiết liên tục albumin trong khoảng từ 30 đến 300 mg/ngày (20–200 <g/phút) được gọi là albumin niệu vi lượng, trong khi các giá trị trên 300 mg/ngày được gọi là albumin niệu đại thể.
Mê sảng: phân tích để chẩn đoán và điều trị
Cơ chế sinh học thần kinh của mê sảng chưa được hiểu rõ, nhưng một giả thuyết bao gồm mối quan hệ với hoạt động giảm acetycholine.
Mất ý thức thoáng qua: đánh giá các vấn đề tuần hoàn hô hấp
Bằng chứng trên điện tâm đồ của thiếu máu cơ tim cấp gợi ý rối loạn nhịp thứ phát do thiếu máu; ví dụ nhịp nhanh thất, ngất liên quan đến thiếu máu cơ tim. Thảo luận ngay với bác sĩ tim mạch nếu bất kỳ đặc điểm nào ở trên hiện diện.
Điện tâm đồ trong viêm màng ngoài tim cấp
Không giống như nhồi máu cơ tim với ST chênh lên, ST chênh lên điển hình kéo dài trong vài ngày. Sóng T cao cùng với thay đổi ST, sau đó đảo ngược.
