- Trang chủ
- Sách y học
- Thực hành chẩn đoán điện tâm đồ bệnh lý
- Điện tâm đồ chẩn đoán ngoại tâm thu thất (PVC)
Điện tâm đồ chẩn đoán ngoại tâm thu thất (PVC)
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Định nghĩa
Nhịp sớm phát sinh từ một điểm ngoài nút xoang trong tâm thất.
Nguồn gốc của nhịp lạc chỗ
Nhóm của các tế bào điều hòa nhịp tim trên toàn hệ thống dẫn truyền có khả năng khử cực tự phát.
Tỷ lệ khử cực giảm từ trên xuống dưới: nhanh nhất tại nút xoang nhĩ, chậm nhất trong tâm thất.
Xung ngoài nút xoang từ các tế bào điều hòa nhịp tim bên dưới thường bị đàn áp bởi nhiều xung nhanh từ trên cao.
Tuy nhiên, nếu các tế bào ngoài nút xoang khử cực sớm - trước khi sự xuất hiện của xung xoang tiếp theo - nó có thể "bắt nhịp" các tâm thất, tạo thất co sớm.
Co thắt sớm ("ectopics") được phân loại theo nguồn gốc - nhĩ (PAC), bộ nối (PJCs) hoặc tâm thất (PVC).

Nhịp thất lạc chỗ
Nhịp xuất phát ngoài xoang trong tâm thất bỏ qua hệ thống His-Purkinje và khử cực tâm thất trực tiếp.
Điều này sẽ phá vỡ trình tự bình thường hoạt động của tim, dẫn đến kích hoạt không đồng bộ hai tâm thất.
Các dẫn truyền trong thất chậm trễ tạo ra phức bộ QRS với thời gian kéo dài và hình thái bất thường.
Các đặc điểm điện tâm đồ
PVC có các tính năng sau đây:
QRS rộng (≥ 120 ms) với hình thái bất thường.
Nhịp sớm - tức là xảy ra sớm hơn khởi phát xung nút xoang sau dự kiến.
Đoạn ST nghịch thường và sóng T thay đổi.
Thường theo sau là một khoảng tạm dừng bù.
Dẫn ngược dòng tới tâm nhĩ có thể có hoặc không xảy ra.
"Lỗi nhịp" mô tả một hình tái cực bất thường (thường thấy với block nhánh trái, nhịp nhanh, VT), trong đó đoạn ST và sóng T hướng đối diện với vector chính của phức bộ:
ST chênh xuống và đảo ngược sóng T trong đạo trình với sóng R chiếm ưu thế.
ST chênh lên với sóng T thẳng đứng trong dạo trình với sóng S chiếm ưu thế.

Sự lỗi nhịp thích hợp
Với tạm dừng bù đầy đủ, nhịp đập bình thường tiếp theo đến sau một khoảng thời gian bằng gấp đôi RR khoảng thời gian trước đó.
Dẫn truyền ngược dòng mô tả quá trình mà trong đó các xung được dẫn ngược qua nút nhĩ thất, tạo ra khử cực nhĩ. Điều này có thể nhìn thấy trên điện tâm đồ như sóng P ngược, thường xảy ra sau phức bộ QRS.
PVC được cho là "thường xuyên" nếu có nhiều hơn 5 PVC mỗi phút trên điện tâm đồ, hoặc nhiều hơn 10 - 30 mỗi giờ trong quá trình theo dõi.
Phân loại
PVC có thể là:
Một ổ - Xuất phát từ một điểm ngoài xoang duy nhất, PVC là giống hệt nhau.
Đa ổ - Xuất phát từ hai hoặc nhiều hơn các ổ ngoài xoang; nhiều hình thái QRS.
Nguồn gốc của mỗi PVC có thể được phân biệt từ hình thái QRS:
PVC phát sinh từ thất phải có hình thái block nhánh trái (sóng S chiếm ưu thế trong V1).
PVC phát sinh từ thất trái có hình thái block nhánh phải (sóng R chiếm ưu thế trong V1).
Hình mẫu
PVC thường xảy ra lặp đi lặp lại trong các mô hình:
Nhịp đôi - cách mỗi nhịp bình thường là một nhịp PVC.
Nhịp ba - cách hai nhịp bình thường là một nhịp PVC.
Nhịp bốn – cách ba nhịp bình thường là một nhịp PVC.
Cặp - hai PVC liên tiếp.
Bộ ba - ba PVC liên tiếp.
Ý nghĩa lâm sàng
PVC là một hiện tượng điện sinh lý bình thường không thường xuyên đòi hỏi phải kiểm tra hoặc điều trị.
PVC thường xuyên có thể gây hồi hộp và cảm giác tim "bỏ qua một nhịp".
Ở những bệnh nhân với bệnh cơ bản (ví dụ như bệnh tim thiếu máu cục bộ, WPW), PVC có thể kích hoạt sự khởi đầu của nhịp nhanh vào lại - ví dụ như VT, AVNRT / AVRT.
PVC thường xuyên thường là lành tính, ngoại trừ trong bối cảnh của QTc kéo dài, hiện tượng "R trên T"ảnh hưởng đến loạn nhịp thất ác tính như xoắn đỉnh.
Nguyên nhân
PVC thường xuyên hoặc có triệu chứng có thể là do:
Lo lắng.
Cường giao cảm.
Beta-agonists.
Caffeine quá mức.
Hạ kali máu.
Hạ magne máu.
Độc tính Digoxin.
Thiếu máu cục bộ cơ tim.
Ví dụ
PVC đa ổ

Nhịp xoang với PVC hai hình thái khác nhau (mũi tên)
Lưu ý đảo chiều đoạn ST / sóng T.
Tạm dừng và khoảng trước PVC bằng gấp đôi so với khoảng RR trước đó (= tạm dừng bù đầy đủ).
Ngoại tâm thu thất nhịp đôi

Nhịp xoang với PVC thường xuyên trong hình của ngoại tâm thu thất nhịp đôi
Ngoại tâm thu thất nhịp bốn

Nhịp tim nhanh xoang với PVC thường xuyên trong hình ngoại tâm thu thất nhịp bốn
Bài viết cùng chuyên mục
Điện tâm đồ chẩn đoán nhịp nhanh thất
Nhịp nhanh thất, có thể làm giảm cung lượng tim, với hậu quả là huyết áp thấp, sự suy sụp, và suy tim cấp tính.
Điện tâm đồ chẩn đoán bệnh cơ tim giãn (DCM)
Các bất thường điện tâm đồ phổ biến nhất là những liên quan với tâm nhĩ và tâm thất phì đại - thông thường, thay đổi được nhìn thấy nhưng có thể là dấu hiệu của phì đại hai nhĩ hoặc hai thất.
Điện tâm đồ chẩn đoán hội chứng QT ngắn
Các triệu chứng xuất hiện ban đầu, thường gặp nhất là tim ngừng đập, bệnh nhân khác có thể xuất hiện đánh trống ngực.
Sóng Delta của hội chứng WPW điện tâm đồ
Khoảng thời gian PR ngắn dưới 120ms, phức bộ QRS rộng trên 100ms, một nét nhỏ chắp nối đến phức bộ QRS là sóng delta.
Điện tâm đồ chẩn đoán viêm cơ tim
Với viêm lân cận màng ngoài tim, các tính năng điện tâm đồ của viêm màng ngoài tim cũng có thể được nhìn thấy.
Điện tâm đồ chẩn đoán nhịp nhanh đường ra thất phải (RVOT)
Nhịp tim hơn 100 lần mỗi phút, QRS lớn hơn 120 mili giây, hình thái học LBBB, trục điện tim sang phải, xuống dưới.
Điện tâm đồ chẩn đoán nhịp nhanh thất đa hình (PVT) và xoắn đỉnh (TDP)
Xoắn đỉnh là một hình thức cụ thể của nhịp nhanh thất đa hình, xảy ra trong bối cảnh QT kéo dài, phức bộ QRS xoắn.
Điện tâm đồ chẩn đoán mắc sai điện cực đảo chiều tay trái tay phải
Sự đảo ngược của các điện cực tay trái, và phải tạo ra một hình tương tự như dextrocardia, trong các đạo trình chi, DI trở nên đảo ngược.
Điện tâm đồ block xoang nhĩ
Các nhịp nút xoang vẫn tiếp tục truyền xung động bình thường, tuy nhiên, một số các xung điện xoang bị chặn trước khi có thể dẫn truyền.
Điện tâm đồ chẩn đoán hiệu lực của digoxin
Rút ngắn thời gian trơ tâm nhĩ, và tâm thất, tạo ra khoảng QT ngắn, với những bất thường tái cực thứ phát, ảnh hưởng đến các phân đoạn ST, sóng T và sóng U.
Điện tâm đồ chẩn đoán hạ Kali máu
Sóng U nổi bật, nhìn thấy tốt nhất trong các đạo trình trước tim, rõ ràng khoảng QT kéo dài do sự kết hợp giữa T và U, bằng khoảng thời gian dài QU.
Điện tâm đồ chẩn đoán thiếu máu cục bộ cơ tim
ST chệnh xuống đi ngang hoặc downsloping lớn hơn 0,5 mm tại điểm J trong lớn hơn 2 đạo trình tiếp giáp chỉ ra thiếu máu cục bộ cơ tim.
Điện tâm đồ chẩn đoán tăng áp lực nội sọ (ICP)
Trong một số trường hợp, những bất thường điện tâm đồ có thể được kết hợp với bằng chứng siêu âm tim.
Điện tâm đồ chẩn đoán điện thế QRS thấp
Hiệu ứng điện thế giảm dần của các lớp chất lỏng, chất béo hoặc không khí tăng giữa tim, và các điện cực ghi.
Điện tâm đồ chẩn đoán ngoại tâm thu bộ nối (PJC)
Co thắt sớm được phân loại theo nguồn gốc của nó, nhĩ, bộ nối, hoặc tâm thất, những phát sinh từ khu vực của nút nhĩ thất.
Điện tâm đồ chẩn đoán cường giáp
Rung nhĩ được nhìn thấy lên đến 20 phần trăm bệnh nhân, nhiễm độc giáp nặng, cơn bão tuyến giáp, có thể tạo ra nhịp nhanh nhĩ.
Các dạng sóng U của điện tâm đồ
Sóng U đảo ngược sẽ là bất thường (trong chuyển đạo với sóng T thẳng đứng). Sóng U đảo ngược là rất cụ thể cho sự hiện diện của bệnh tim.
Các dạng sóng T của điện tâm đồ
Sóng T rộng, không đối xứng có đỉnh, hay hyperacute được nhìn thấy ST cao, trong giai đoạn đầu của MI, và thường đi trước sự xuất hiện của ST chênh lên.
Điện tâm đồ chẩn đoán quá liều Carbamazepine (TCA)
Có bằng chứng điện tâm đồ phong tỏa kênh natri nhanh: Lưu ý việc mở rộng QRS (135 ms), block AV cấp 1 (PR 240ms) và sóng R nhỏ trong aVR.
Chẩn đoán phân biệt dạng điện tâm đồ
Điện thế thấp Áp Thấp Phù niêm. Tràn dịch màng tim lớn. Tràn dịch màng phổi lớn. Giai đoạn cuối bệnh cơ tim giãn. Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính nghiêm trọng. Béo phì. Bệnh cơ tim hạn chế..
Điện tâm đồ chẩn đoán thuyên tắc phổi (nhồi máu phổi) (PE)
Thay đổi vùng chuyển tiếp, sự thay đổi của điểm chuyển tiếp R trên S, tới V6 với sóng S sâu ở V6, hình bệnh phổi.
Điện tâm đồ block ba nhánh dẫn truyền điện tim
Đối với bệnh nhân với sự kết hợp của block hai nhánh, cộng với block AV độ 1, hoặc 2, thường không thể biết được từ ECG.
Các dạng đoạn ST của điện tâm đồ
Viêm màng ngoài tim gây ST chênh lõm với đoạn PR chênh xuống trong nhiều chuyển đạo - thường DI, II, III, aVF, aVL và V2 - 6. Có đối ứng ST chênh xuống và PR cao trong chuyển đạo aVR và V1.
Giải thích điện tâm đồ (ECG) nhi khoa (trẻ em)
Sự thống trị tâm thất phải của trẻ sơ sinh, và trẻ nhỏ được dần dần thay thế bởi sự thống trị thất trái, để đến 3 đến 4 tuổi điện tâm đồ ở trẻ em tương tự như của người lớn.
Điều hòa tạo nhịp tim: bản mẫu bình thường
Code máy tạo nhịp tim đã được sửa đổi vào năm 2002, mặc dù nhiều sách giáo khoa vẫn sử dụng phiên bản trước đó từ năm 1987.
