- Trang chủ
- Thông tin
- Chẩn đoán và điều trị theo y học hiện đại
- Sốt: mở rộng tầm soát nhiễm trùng ở từng nhóm bệnh nhân
Sốt: mở rộng tầm soát nhiễm trùng ở từng nhóm bệnh nhân
Nếu sốt đi kèm tiêu chảy, cách ly bệnh nhân, chú ý tiền sử đi du lịch gần đây và tiến hành lấy mẫu phân xét nghiệm. Nhanh chóng hội chẩn với khoa vi sinh và truyền nhiễm nếu có nghi ngờ bệnh tả, ví dụ ở người làm việc ở khu vực có nguy cơ cao.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Vừa trở về hoặc sông ở nước ngoài
Khai thác chính xác xem bệnh nhân đã đi đâu, ngày đi và những việc đã làm (kể cả tiền sử quan hệ tình dục). Khai thác về tiền sử tiêm chủng/phòng bệnh sốt rét trước và trong khi đi du lịch.
Hội chẩn với chuyên gia truyền nhiễm ở giai đoạn sớm đối với bất cứ bệnh nhân nào đi du lịch trở về có sốt không rõ nguyên nhân.
Cần loại trừ sốt rét nếu bệnh nhân từ vùng bệnh về với 3 mẫu phết máu ± test tìm kháng nguyên ký sinh trùng sốt rét:
Dùng test tìm kháng nguyên sốt rét để dễ dàng chẩn đoán nhanh, đặc biệt nếu bệnh nhân đang trong đợt cấp, nhưng cũng đồng thời gửi thêm lam máu bởi vì test này có thể bỏ sót < 0,5% các trường hợp nhiễm ký sinh trùng và không đặc hiệu loài..
Tiến hành phết máu mỗi 72h, lý tưởng nhất là sau khi kết thúc sốt bởi vì lúc đó mật độ ký sinh trùng sốt rét trong máu là cao nhất.
Nhanh chóng hội chẩn với chuyên gia truyền nhiễm nếu kết quả phết máu dương tính và chuyển bệnh nhân đến chuyên khoa truyền nhiễm.
Nếu sốt đi kèm tiêu chảy, cách ly bệnh nhân, chú ý tiền sử đi du lịch gần đây và tiến hành lấy mẫu phân xét nghiệm. Nhanh chóng hội chẩn với khoa vi sinh và truyền nhiễm nếu có nghi ngờ bệnh tả, ví dụ ở người làm việc ở khu vực có nguy cơ cao.
Tiến hành cấy máu và cấy phân nếu nghi ngờ bệnh thương hàn (và bắt đầu điều trị theo kinh nghiệm) nếu bệnh nhân sốt cao, thể trạng suy kiệt và vừa trở về từ châu Á (đặc biệt từ Ấn Độ), châu Phi (đặc biệt ở Sahara) hoặc châu Mỹ Latinh. Hội chẩn với khoa Truyền nhiễm, đặc biệt nếu có biểu hiện lâm sàng gợi ý, ví dụ: nổi ban đỏ toàn thân, mạch nhiệt phân ly, táo bón.
Nghi ngờ bệnh sán máng nếu bệnh nhân có phơi nhiễm với các nguồn nước nguy cơ nhiễm bẩn, ví dụ các hoạt động bơi lôi, chèo thuyền, thể thao dưới nước ở châu Phi, Nam Mỹ hoặc châu Á trong vòng 8 tuần trở lại, +/- tăng bạch cầu ưa acid, gan lách lớn, đau hạ sườn phải, tiêu chảy phân máu, nổi mày đay. Gửi máu làm xét nghiệm và hội chẩn với chuyên gia truyền nhiễm.
Tiến hành siêu âm để loại trừ abces do amip nếu bệnh nhân trở về từ vùng nhiệt đới và đau tức hạ sườn phải ± sờ được gan lớn.
Làm xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue nếu vừa trở về từ vùng nhiệt đới/cận nhiệt đới và có biểu hiện sốt cấp, sung huyết da, đau đầu hoặc đau nhức cơ xương. Nhanh chóng hội chẩn với khoa truyền nhiễm nếu có triệu chứng nghi ngờ (chảy máu cam, xuất huyết tiêu hóa, giảm tiểu cầu, bệnh đông máu) hoặc có shock sốt xuất huyết (hạ huyết áp, giảm thời gian làm đầy mao mạch, suy giảm chức năng các cơ quan).
Bệnh nhân suy giảm miễn dịch
Ở bệnh nhân HIV, kiểm tra số lượng CD4 gần đây và 3 tháng trước đó. Virus và nấm là những tác nhân nhiễm trùng phổ biến nếu số lượng CD4 < 200, tuy nhiên vẫn có thể mắc phải những tác nhân này nếu số lượng này cao hơn. Kiểm tra sự tuân thủ điều trị thuốc kháng virus/kháng sinh dự phòng của bệnh nhân.
Tham khảo ý kiến của chuyên gia hô hấp nếu bệnh nhân có các triệu chứng đường hô hấp hoặc X quang phổi bất thường (đặc biệt nếu có hang phổi), hoặc nếu nghi ngờ viêm phổi do Pneumocystis dựa vào các đặc điểm sau đây:
Nhịp thở nhanh, ví dụ: thở nhanh nông trong vòng 2 - 3 tuần hoặc tiến triển từ từ.
Ho không có đàm.
Thâm nhiễm kẽ 2 bên phổi trên X quang hoặc không có biến đổi đặc hiệu trên phim.
Giảm oxy máu không giải thích được (bao gồm hạ khi đang vận động).
Lấy đàm soi dưới kính hiển vi (vi khuẩn kháng acid cồn, nấm), phân tích mô bệnh học (pneumocystis) và cấy máu tìm Mycobacteria, nếu cần thiết, kích thích bệnh nhân khạc đàm bằng khí dung nước muối ưu trương ở môi trường áp lực âm và làm các thủ thuật cần thiết khác để chẩn đoán, ví dụ rửa phế quản, phế nang Nếu các triệu chứng đường tiêu hóa là nổi bật, làm xét nghiệm huyết thanh tìm giun lươn (Strongyloides) và cân nhắc thăm dò tình trạng viêm đại tràng do Cytomegalovirus (CMV), ví dụ: nội soi ống mềm đại tràng sigma + sinh thiết; và lao màng bụng, ví dụ CT ổ bụng/khung chậu ± sinh thiết (mẫu sinh thiết phải được ngâm với nước muối, không phải formaline bởi vì vi khuẩn kháng acid cồn sẽ bị tiêu diệt).
Nếu có các triệu chứng của thần kinh trung ương, thăm dò từng bước như phần tầm soát nhiễm trùng ban đầu, làm huyết thanh chẩn đoán Toxoplasma, chọc dịch não tủy tìm Cryptococcus và lao, và sinh thiết bất cứ các tổn thương choán chỗ nào ở não.
Kiểm tra các triệu chứng ở da và sinh thiết các ban da xuất hiện bất thường, ví dụ Kaposi's carcinome, u lympho tế bào T.
Bệnh nhân được đặt catheter tĩnh mạch dài ngày có nguy cơ cao nhiễm khuẩn, nhiễm nấm; do đó cần quan tâm tới đường nhiễm khuẩn này ở mọi ca nếu không tìm thấy tiêu điểm nhiễm trùng rõ ràng, cho dù vị trí đặt đường truyền tĩnh mạch có thể không có dấu hiệu nhiễm trùng.
Cấy máu lấy từ đường truyền tĩnh mạch và, nếu thực hiện được, lấy máu ở đầu kim của dây truyền tĩnh mạch để tiến hành nuôi cấy.
Xem xét siêu âm tim để tìm kiếm các dấu hiệu của viêm nội tâm mạc ở bệnh nhân đã được chứng thực có nhiễm trùng huyết - đặc biệt nhiễm Staphylococcus aureus hoặc sốt dai dẳng.
Hội chẩn sớm với các chuyên khoa thích hợp nếu nghi ngờ nhiễm trùng bộ phận nhân tạo ví dụ valve tim nhân tạo, máy tạo nhịp, khớp giả...
Tiêm chích ma túy
Cấy máu > 3 mẫu trước khi bắt đầu liệu pháp kháng sinh.
Kiểm tra mọi vị trí tiêm chích mới và cũ; nếu có dấu hiệu sưng tấy hoặc mềm nhão tại vị trí tiêm, cân nhắc siêu âm để loại trừ 1 ổ abces ở bên dưới.
Siêu âm Doppler để loại trừ huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) nếu có triệu chứng sưng ở chân hoặc báng.
Loại trừ abces ở cơ thắt lưng chậu bằng CT nếu có đau ở háng hoặc đau lưng dưới lan xuống chân.
Tiến hành siêu âm tim ± siêu âm tim đường thực quản nếu không có tiêu điểm nhiễm trùng rõ ràng hoặc có bằng chứng của tắc mạch nhiễm trùng trên X quang lồng ngực.
Bài viết cùng chuyên mục
Khám bệnh: những triệu chứng không thể tìm ra tổn thương thực thể
Những bệnh nhân với bệnh lý mạn tính thì có nhiều khả năng biểu hiện những khía cạnh về tâm lý trong tình trạng của họ (đặc biệt là trầm cảm), và nó có thể ảnh hưởng lên hình thái lâm sàng.
Định hướng chẩn đoán nôn ra máu
Nôn ra máu đỏ tươi hoặc máu cục là dấu hiệu của máu đang tiếp tục chảy và là một cấp cứu nội khoa, nếu máu màu đen, có hình hạt café là gợi ý của chảy máu đã cầm hoặc chảy máu tương đối nhẹ.
Định hướng chẩn đoán đau bụng mạn tính
Đau bụng mạn tính rất phổ biến, hầu hết bệnh nhân trẻ sẽ có rối loạn chức năng, bệnh nhân lớn tuổi với đau bụng mới, dai dẳng, ưu tiên là loại trừ bệnh lý ác tính.
Phân tích triệu chứng đau đầu để chẩn đoán và điều trị
Đau đầu thường được phân loại thành các loại nguyên phát và thứ phát với hệ thống phân loại quốc tế về rối loạn đau đầu, phiên bản thứ hai.
Ho: phân tích triệu chứng
Ho được kích hoạt thông qua kích hoạt cảm giác của các sợi hướng tâm trong dây thần kinh phế vị, phản xạ nội tạng này có thể được kiểm soát bởi các trung tâm vỏ não cao hơn.
Đau ngực từng cơn: những lưu ý lâm sàng trong chẩn đoán
Phải loại trừ thuyên tắc phổi ở bất kỳ bệnh nhân nào có đau kiểu màng phổi cấp tính và không có nguyên nhân nào khác rõ ràng. D-dimer âm tính cùng Wells score < 4 (đủ khả năng loại trừ chẩn đoán này).
Yếu chi: đánh giá triệu chứng trên bệnh cảnh lâm sàng
Yếu chi một bên có thể do nhiều nguyên nhân không đột quỵ gây ra và không nên vội vàng lờ đi các nguyên nhân này để có thể kiểm soát thích hợp.
Thiếu máu trong bệnh mạn tính
Tình trạng giảm erythropoietin ít khi là nguyên nhân quan trọng gây sản xuất hồng cầu dưới mức từ trong suy thận, khi đó erythropoietin giảm là một quy luật.
Điều trị đau không dùng thuốc và diễn biến cuối đời
Nhiều bệnh nhân bị bệnh nan y chết trong tình trạng mê sảng, rối loạn ý thức và một sự thay đổi nhận thức mà phát triển trong một thời gian ngắn và được thể hiện bằng cách giải thích sai
Sưng khớp: đánh giá các triệu chứng và nguyên nhân
Ở bệnh nhân trẻ tuổi không có tiền sử chấn thương, đã loại trừ được viêm khớp nhiễm khuẩn, sự xuất hiện của bất cứ triệu chứng nào sau đây là dấu hiệu gợi ý cao của viêm khớp phản ứng.
Đau ngực cấp: phân tích đặc điểm điện tâm đồ và các triệu chứng lâm sàng
Nếu có ST chênh lên nhưng không phù hợp những tiêu chuẩn, làm lại điện tâm đồ thường xuyên và xử trí như bệnh nhân nhồi máu cơ tim không ST chênh lên/ đau thắt ngực không ổn định.
Thiểu niệu và vô niệu: phân tích triệu chứng
Thiểu niệu cấp tính nên được nhập viện do nguy cơ phát triển các biến chứng có thể gây tử vong như tăng kali máu, quá tải dịch, nhiễm toan chuyển hóa và viêm màng ngoài tim.
Hôn mê: phân tích để chẩn đoán và điều trị
Hôn mê là tình trạng bất tỉnh một khoảng thời gian kéo dài được phân biệt với giấc ngủ bởi không có khả năng đánh thức bệnh nhân.
Vàng da: đánh giá bổ sung bệnh gan mạn tính
Đánh giá biến chứng ở tất cả những bệnh nhân xơ gan đã biết hoặc nghi ngờ. Lượng giá bệnh não gan và khám báng, phù, vàng da và suy dinh dưỡng. Đo albumin và PT để đánh giá chức năng tổng hợp của gan.
Thăm khám lâm sàng vùng bìu: những điểm cần chú ý
Ở những bệnh nhân có khối sưng viêm/đau hoặc đau vùng bìu cấp tính thì hay kiểm tra phản xạ da bìu, bình thường tinh hoàn bên phía đó sẽ được cơ bìu nâng lên.
Điểm mù thị giác: phân tích triệu chứng
Điểm mù thị giác có thể được phân loại theo vị trí của nó trong trường thị giác, điểm mù thị giác trung tâm và điểm mù thị giác ngoại vi.
Yếu chi một bên: đánh giá đặc điểm khởi phát lâm sàng
Trong tất cả các trường hợp, tham khảo lời khuyên của các chuyên gia thần kinh và tìm hiểu thêm bằng cách tiến hành chọc dịch não tủy ± MRI nếu CT không tìm ra nguyên nhân.
Khó nuốt thực quản (cấu trúc): các nguyên nhân thường gặp
Cả bệnh cấu trúc và rối loạn vận động đều có thể gây khó nuốt. Nguyên nhân cấu trúc thường gây khó nuốt với thức ăn rắn; rối loạn vận động có thể gây khó nuốt với cả thức ăn rắn và chất lỏng.
Táo bón: phân tích triệu chứng
Những thay đổi về kết cấu của phân, chức năng nhu động hoặc đường kính trong của đại tràng, hoặc chức năng tống xuất của trực tràng và sàn chậu có thể dẫn đến táo bón.
Đột quỵ: phân tích triệu chứng
Đột quỵ được định nghĩa là tình trạng thiếu hụt thần kinh cấp tính kéo dài hơn 24 giờ. Các vấn đề kéo dài dưới 24 giờ được gọi là cơn thiếu máu não thoáng qua.
Cường giáp/Nhiễm độc giáp: phân tích triệu chứng
Trong cường giáp nặng, lo lắng, khả năng cảm xúc, suy nhược, không dung nạp nhiệt, giảm cân và tăng tiết mồ hôi là phổ biến.
Khám lâm sàng tình trạng dinh dưỡng
Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân dựa trên chiều cao và cân nặng được diễn giải bằng chỉ số khối cơ thể, là một chỉ số đáng tin cậy hơn về tình trạng béo phì so với các bảng chiều cao cân nặng.
Trầm cảm ở người cao tuổi
Nói chung, fluoxetine được tránh vì thời gian hoạt động dài của nó và thuốc chống trầm cảm ba vòng cũng được tránh vì tác dụng phụ kháng cholinergic cao
Phân tích triệu chứng phù nề để chẩn đoán và điều trị
Phù là do sự bất thường trong trao đổi dịch ảnh hưởng đến huyết động mao mạch, trao đổi natri và nước ở thận, hoặc cả hai, phù nề là một triệu chứng phổ biến trong nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau.
Tiêu chuẩn Duke cải tiến để chẩn đoán viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn
Cấy máu dương tính với các sinh vật gây viêm nội tâm mạc nhiễm trùng điển hình, từ 2 mẫu cấy máu riêng biệt hoặc 2 mẫu cấy dương tính từ các mẫu lấy cách nhau > 12 giờ, hoặc 3 hoặc phần lớn 4 lần cấy máu riêng biệt.
