Sốt: mở rộng tầm soát nhiễm trùng ở từng nhóm bệnh nhân

2020-12-26 10:01 AM

Nếu sốt đi kèm tiêu chảy, cách ly bệnh nhân, chú ý tiền sử đi du lịch gần đây và tiến hành lấy mẫu phân xét nghiệm. Nhanh chóng hội chẩn với khoa vi sinh và truyền nhiễm nếu có nghi ngờ bệnh tả, ví dụ ở người làm việc ở khu vực có nguy cơ cao.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Vừa trở về hoặc sông ở nước ngoài

Khai thác chính xác xem bệnh nhân đã đi đâu, ngày đi và những việc đã làm (kể cả tiền sử quan hệ tình dục). Khai thác về tiền sử tiêm chủng/phòng bệnh sốt rét trước và trong khi đi du lịch.

Hội chẩn với chuyên gia truyền nhiễm ở giai đoạn sớm đối với bất cứ bệnh nhân nào đi du lịch trở về có sốt không rõ nguyên nhân.

Cần loại trừ sốt rét nếu bệnh nhân từ vùng bệnh về với 3 mẫu phết máu ± test tìm kháng nguyên ký sinh trùng sốt rét:

Dùng test tìm kháng nguyên sốt rét để dễ dàng chẩn đoán nhanh, đặc biệt nếu bệnh nhân đang trong đợt cấp, nhưng cũng đồng thời gửi thêm lam máu bởi vì test này có thể bỏ sót < 0,5% các trường hợp nhiễm ký sinh trùng và không đặc hiệu loài..

Tiến hành phết máu mỗi 72h, lý tưởng nhất là sau khi kết thúc sốt bởi vì lúc đó mật độ ký sinh trùng sốt rét trong máu là cao nhất.

Nhanh chóng hội chẩn với chuyên gia truyền nhiễm nếu kết quả phết máu dương tính và chuyển bệnh nhân đến chuyên khoa truyền nhiễm.

Nếu sốt đi kèm tiêu chảy, cách ly bệnh nhân, chú ý tiền sử đi du lịch gần đây và tiến hành lấy mẫu phân xét nghiệm. Nhanh chóng hội chẩn với khoa vi sinh và truyền nhiễm nếu có nghi ngờ bệnh tả, ví dụ ở người làm việc ở khu vực có nguy cơ cao.

Tiến hành cấy máu và cấy phân nếu nghi ngờ bệnh thương hàn (và bắt đầu điều trị theo kinh nghiệm) nếu bệnh nhân sốt cao, thể trạng suy kiệt và vừa trở về từ châu Á (đặc biệt từ Ấn Độ), châu Phi (đặc biệt ở Sahara) hoặc châu Mỹ Latinh. Hội chẩn với khoa Truyền nhiễm, đặc biệt nếu có biểu hiện lâm sàng gợi ý, ví dụ: nổi ban đỏ toàn thân, mạch nhiệt phân ly, táo bón.

Nghi ngờ bệnh sán máng nếu bệnh nhân có phơi nhiễm với các nguồn nước nguy cơ nhiễm bẩn, ví dụ các hoạt động bơi lôi, chèo thuyền, thể thao dưới nước ở châu Phi, Nam Mỹ hoặc châu Á trong vòng 8 tuần trở lại, +/- tăng bạch cầu ưa acid, gan lách lớn, đau hạ sườn phải, tiêu chảy phân máu, nổi mày đay. Gửi máu làm xét nghiệm và hội chẩn với chuyên gia truyền nhiễm.

Tiến hành siêu âm để loại trừ abces do amip nếu bệnh nhân trở về từ vùng nhiệt đới và đau tức hạ sườn phải ± sờ được gan lớn.

Làm xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue nếu vừa trở về từ vùng nhiệt đới/cận nhiệt đới và có biểu hiện sốt cấp, sung huyết da, đau đầu hoặc đau nhức cơ xương. Nhanh chóng hội chẩn với khoa truyền nhiễm nếu có triệu chứng nghi ngờ (chảy máu cam, xuất huyết tiêu hóa, giảm tiểu cầu, bệnh đông máu) hoặc có shock sốt xuất huyết (hạ huyết áp, giảm thời gian làm đầy mao mạch, suy giảm chức năng các cơ quan).

Bệnh nhân suy giảm miễn dịch

Ở bệnh nhân HIV, kiểm tra số lượng CD4 gần đây và 3 tháng trước đó. Virus và nấm là những tác nhân nhiễm trùng phổ biến nếu số lượng CD4 < 200, tuy nhiên vẫn có thể mắc phải những tác nhân này nếu số lượng này cao hơn. Kiểm tra sự tuân thủ điều trị thuốc kháng virus/kháng sinh dự phòng của bệnh nhân.

Tham khảo ý kiến của chuyên gia hô hấp nếu bệnh nhân có các triệu chứng đường hô hấp hoặc X quang phổi bất thường (đặc biệt nếu có hang phổi), hoặc nếu nghi ngờ viêm phổi do Pneumocystis dựa vào các đặc điểm sau đây:

Nhịp thở nhanh, ví dụ: thở nhanh nông trong vòng 2 - 3 tuần hoặc tiến triển từ từ.

Ho không có đàm.

Thâm nhiễm kẽ 2 bên phổi trên X quang hoặc không có biến đổi đặc hiệu trên phim.

Giảm oxy máu không giải thích được (bao gồm hạ khi đang vận động).

Lấy đàm soi dưới kính hiển vi (vi khuẩn kháng acid cồn, nấm), phân tích mô bệnh học (pneumocystis) và cấy máu tìm Mycobacteria, nếu cần thiết, kích thích bệnh nhân khạc đàm bằng khí dung nước muối ưu trương ở môi trường áp lực âm và làm các thủ thuật cần thiết khác để chẩn đoán, ví dụ rửa phế quản, phế nang Nếu các triệu chứng đường tiêu hóa là nổi bật, làm xét nghiệm huyết thanh tìm giun lươn (Strongyloides) và cân nhắc thăm dò tình trạng viêm đại tràng do Cytomegalovirus (CMV), ví dụ: nội soi ống mềm đại tràng sigma + sinh thiết; và lao màng bụng, ví dụ CT ổ bụng/khung chậu ± sinh thiết (mẫu sinh thiết phải được ngâm với nước muối, không phải formaline bởi vì vi khuẩn kháng acid cồn sẽ bị tiêu diệt).

Nếu có các triệu chứng của thần kinh trung ương, thăm dò từng bước như phần tầm soát nhiễm trùng ban đầu, làm huyết thanh chẩn đoán Toxoplasma, chọc dịch não tủy tìm Cryptococcus và lao, và sinh thiết bất cứ các tổn thương choán chỗ nào ở não.

Kiểm tra các triệu chứng ở da và sinh thiết các ban da xuất hiện bất thường, ví dụ Kaposi's carcinome, u lympho tế bào T.

Bệnh nhân được đặt catheter tĩnh mạch dài ngày có nguy cơ cao nhiễm khuẩn, nhiễm nấm; do đó cần quan tâm tới đường nhiễm khuẩn này ở mọi ca nếu không tìm thấy tiêu điểm nhiễm trùng rõ ràng, cho dù vị trí đặt đường truyền tĩnh mạch có thể không có dấu hiệu nhiễm trùng.

Cấy máu lấy từ đường truyền tĩnh mạch và, nếu thực hiện được, lấy máu ở đầu kim của dây truyền tĩnh mạch để tiến hành nuôi cấy.

Xem xét siêu âm tim để tìm kiếm các dấu hiệu của viêm nội tâm mạc ở bệnh nhân đã được chứng thực có nhiễm trùng huyết - đặc biệt nhiễm Staphylococcus aureus hoặc sốt dai dẳng.

Hội chẩn sớm với các chuyên khoa thích hợp nếu nghi ngờ nhiễm trùng bộ phận nhân tạo ví dụ valve tim nhân tạo, máy tạo nhịp, khớp giả...

Tiêm chích ma túy

Cấy máu > 3 mẫu trước khi bắt đầu liệu pháp kháng sinh.

Kiểm tra mọi vị trí tiêm chích mới và cũ; nếu có dấu hiệu sưng tấy hoặc mềm nhão tại vị trí tiêm, cân nhắc siêu âm để loại trừ 1 ổ abces ở bên dưới.

Siêu âm Doppler để loại trừ huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) nếu có triệu chứng sưng ở chân hoặc báng.

Loại trừ abces ở cơ thắt lưng chậu bằng CT nếu có đau ở háng hoặc đau lưng dưới lan xuống chân.

Tiến hành siêu âm tim ± siêu âm tim đường thực quản nếu không có tiêu điểm nhiễm trùng rõ ràng hoặc có bằng chứng của tắc mạch nhiễm trùng trên X quang lồng ngực.

Bài viết cùng chuyên mục

Sa sút trí tuệ: phân tích để chẩn đoán và điều trị

Sa sút trí tuệ là một hội chứng hơn là một căn bệnh, nguyên nhân và sinh lý bệnh có thể khác nhau rất nhiều, hầu hết các loại sa sút trí tuệ phổ biến hơn đều tiến triển.

Đa hồng cầu: phân tích triệu chứng

Nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh đa hồng cầu có liên quan đến tình trạng thiếu oxy, nên cần thực hiện đánh giá kỹ lưỡng tình trạng hô hấp.

Mề đay: phân tích triệu chứng

Mề đay được phân loại là miễn dịch, không miễn dịch hoặc vô căn. Globulin miễn dịch loại I hoặc loại III Các phản ứng qua trung gian E là nguyên nhân chính gây mày đay cấp tính.

Xuất huyết và ban xuất huyết: phân tích triệu chứng

Trình tự thời gian và tiền sử ban xuất huyết cũng như bất kỳ dấu hiệu chảy máu bất thường nào đều quan trọng, bởi vì nguyên nhân của ban xuất huyết có thể là bẩm sinh hoặc mắc phải.

Khiếm thính ở người cao tuổi

Khuếch đại nghe phù hợp có thể là một thách thức vì sự kỳ thị liên quan đến hỗ trợ nghe cũng như chi phí của các thiết bị như vậy

Chuẩn bị cho việc khám lâm sàng

Việc khám sức khỏe thường bắt đầu sau khi bệnh sử đã được khai thác. Nên có một hộp đựng di động được thiết kế để chứa tất cả các thiết bị cần thiết.

Tiếp cận chẩn đoán bệnh nhân bị bệnh nặng

Việc tiếp cận hầu hết, nếu không phải tất cả, bệnh nhân trong tình huống cấp tính, trước tiên phải xác định không bị ngừng tim phổi và không có xáo trộn lớn các dấu hiệu sinh tồn.

Đau thắt lưng: phân tích bệnh cảnh lâm sàng

Cân nhắc đi lặc cách hồi thần kinh nếu đau thắt lưng kèm theo khó chịu ở cẳng chân và đùi hai bên ví dụ: cảm giác bỏng, đè ép, tê rần; tăng lên khi đi hoặc đứng và giảm nhanh khi ngồi, nằm xuống hoặc cúi người tới trước.

Tập thể dục: phòng ngừa bệnh tật

Tập thể dục - Phòng ngừa bệnh tật! Tập thể dục thường xuyên có nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ, tăng huyết áp, tăng lipid máu, bệnh tiểu đường loại 2, bệnh túi thừa và loãng xương thấp hơn...

Men gan tăng cao: phân tích triệu chứng

Các men gan (aminotransferase) là các enzym tế bào được tìm thấy trong tế bào gan; chúng được giải phóng vào huyết thanh do tổn thương tế bào gan, do đó làm tăng nồng độ trong huyết thanh từ mức cơ bản thấp.

Yếu chi: phân tích các đặc điểm lâm sàng

Nếu biểu hiện hiện tại của yếu chi chỉ giới hạn ở một bên của cơ thể thì đánh giá như yếu chi một bên. Mặt khác, tiếp tục theo các cách thức chẩn đoán hiện tại thậm chí nếu các triệu chứng không đối xứng rõ ràng.

Giảm tiểu cầu: phân tích triệu chứng

Giảm tiểu cầu xảy ra thông qua một hoặc nhiều cơ chế sau: giảm sản xuất tiểu cầu bởi tủy xương, tăng phá hủy tiểu cầu, kẹt lách, hiệu ứng pha loãng và lỗi xét nghiệm.

Loãng xương: phân tích triệu chứng

Sự mất cân bằng hoạt động của nguyên bào xương và nguyên bào xương có thể do một số tình trạng liên quan đến tuổi tác và bệnh tật gây ra, thường được phân loại là loãng xương nguyên phát và thứ phát.

Bệnh tiểu đường: phân tích triệu chứng

Phân loại lâm sàng của bệnh tiểu đường  là týp 1, týp 2, thai kỳ và các týp cụ thể khác thứ phát do nhiều nguyên nhân.

Lú lẫn: mê sảng và mất trí

Chẩn đoán phân biệt mê sảng thường rộng và gặp trong bệnh nhân có não dễ bị tổn thương, bao gồm hầu hết các bệnh lý cơ thể cấp tính, sang chấn tinh thần hay các chấn thương do môi trường bên ngoài gây ra.

Các xét nghiệm ghi hình và sinh thiết thận

Khi kích thước thận có chiều dài lớn hơn 9 cm thì chỉ ra bệnh thận không hồi phục, Trong bệnh thận một bên có thể có sự chênh lệch kích thước thận đến 1,5 cm

Lú lẫn mê sảng: đánh giá khi có tổn thương

Khi không chỉ định chụp hình ảnh não, có thể duy trì các biện pháp điều trị trong vài ngày. CT sọ não có thể được chỉ định để loại trừ xuất huyết dưới nhện và những bất thường cấu trúc khác nếu bệnh nhân thất bại điểu trị hoặc nặng hơn.

Hỏi bệnh và thăm khám bệnh nhân béo phì

Thừa cân hoặc béo phì làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh và tử vong do tăng huyết áp, đái tháo đường týp 2, rối loạn lipid máu, bệnh động mạch vành, đột quỵ, sỏi mật, viêm xương khớp, các vấn đề về hô hấp.

Lú lẫn mạn tính: đánh giá về tình trạng lâm sàng

Thực hiện CT sọ não ở mỗi bệnh nhân biểu hiện lú lẫn mãn tính. Nó có thể giúp phát hiện được các nguyên nhân hồi phục được như xuất huyết dưới nhện, hoặc não úng thủy áp lực bình thường hoặc gợi ý các yếu tố nguyên nhân gây bệnh như bệnh mạch máu.

Phân tích triệu chứng chán ăn để chẩn đoán và điều trị

Chán ăn là tình trạng chán ăn kéo dài, đây là một triệu chứng phổ biến của nhiều vấn đề y tế và cần được phân biệt với bệnh chán ăn tâm thần.

Mê sảng mất trí và lú lẫn: phân tích bệnh cảnh lâm sàng

Ớ những bệnh nhân đang có bệnh lý ác tính, suy giảm miễn dịch hoặc ngã gần đây mà không có chấn thương đầu rõ ràng, đầu tiên cần tìm kiếm những nguyên nhân khác gây mê sảng nhưng cũng nên CT sọ não sớm để loại trừ.

Protein niệu: phân tích triệu chứng

Sự bài tiết liên tục albumin trong khoảng từ 30 đến 300 mg/ngày (20–200 <g/phút) được gọi là albumin niệu vi lượng, trong khi các giá trị trên 300 mg/ngày được gọi là albumin niệu đại thể.

Các biểu hiện thường gặp trong bệnh nội tiết

Gen gây béo sản xuất ra leptin, một cytokin do các tế bào mỡ tiết ra nhằm đối phó với sự cất giữ chất mỡ. Khi béo lên, leptin sẽ tác động đến vùng dưới đồi

Cường giáp/Nhiễm độc giáp: phân tích triệu chứng

Trong cường giáp nặng, lo lắng, khả năng cảm xúc, suy nhược, không dung nạp nhiệt, giảm cân và tăng tiết mồ hôi là phổ biến.

Lập luận chẩn đoán từ các dấu hiệu và triệu chứng

Dấu hiệu và triệu chứng thu tương tự như các xét nghiệm, thông tin và kết quả thu được được đánh giá theo cùng một cách và tuân theo các quy tắc và tiêu chuẩn bằng chứng giống nhau.