Xuất huyết trực tràng: đánh giá các nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa dưới

2020-12-26 11:36 AM

Phần lớn bệnh nhân xuất huyết do các nguyên nhân lành tính. Ở bệnh nhân xuất huyết trực tràng cấp tính, đánh giá mức độ xuất huyết và tiến hành đầy đủ các bước cấp cứu trước khi chẩn đoán chính xác.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Haematemesis là nôn ra máu từ đường tiêu hóa trên. Máu đỏ tươi hoặc máu cục là dấu hiệu của máu đang tiếp tục chảy và là một cấp cứu nội khoa. Nếu máu đã chuyển sang màu đen, có hình hạt café là gợi ý của chảy máu đã cầm hoặc chảy máu tương đối nhẹ. Melaena nghĩa là đại tiện ra phân màu đen, thường là biểu hiện của một tình trạng chảy máu cấp tính của đường tiêu hóa trên, tuy nhiên thỉnh thoảng cũng do nguyên nhân chảy máu ở ruột non hoặc đại tràng phải. Haematochezia nghĩa là đại tiện ra phân màu đỏ tươi hoặc phân nâu từ trực tràng; đây thường là biểu hiện của chảy máu ở đường tiêu hóa dưới tuy nhiên 15% trường hợp là do một tình trạng chảy máu ồ ạt ở đường tiêu hóa trên.

Phần lớn bệnh nhân xuất huyết do các nguyên nhân lành tính. Ở bệnh nhân xuất huyết trực tràng cấp tính, đánh giá mức độ xuất huyết và tiến hành đầy đủ các bước cấp cứu trước khi chẩn đoán chính xác. Những nguyên nhân quan trọng sẽ được đưa ra dưới đây:

Các bệnh lý lành tính ở hậu môn

Đây là những nguyên nhân thường gặp ở mọi lứa tuổi của bệnh nhân xuất huyết trực tràng. Các bệnh lý này điển hình bởi chảy máu nhỏ giọt màu đỏ tươi từng lúc trong hoặc sau khi đi đại tiện, mặc dù trĩ có thể gây nên tình trạng chảy máu nhiều và nặng. Những triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân bị trĩ thường là cảm thấy khó chịu, đau hậu môn hoặc đại tiện phân nhầy máu. Nếu đau nặng khi đại tiện thường là gợi ý của nứt kẽ hậu môn. Chẩn đoán bằng thăm trực tràng và nội soi đại tràng, tuy nhiên cần lưu ý một ổ chảy máu ở trên xảy ra đồng thời.

Bệnh lý ở túi thừa

Bệnh lý ở túi thừa là nguyên nhân thường gặp nhất của xuất huyết trực tràng cấp nặng. Xuất huyết xảy ra là do các mạch máu ở cổ túi thừa bị ăn mòn; nó có thể gây nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân nhưng thường tự cầm trong 75% trường hợp.

Ung thư đại trực tràng

Ung thư đại trực tràng là ung thư thường gặp ở cả nam và nữ. Sụt cân gần đây, thay đổi thói quen đại tiện hoặc đau vùng bụng dưới có thể là triệu chứng tuy nhiên diễn tiến bệnh thường âm thầm với rất ít biểu hiện lâm sàng. Polyp cũng là nguyên nhân có thể gây ra xuất huyết trực tràng. Chẩn đoán thường sựa vào nội soi đại tràng.

Bệnh lý ruột viêm

Viêm đại trực tràng chả y máu hoặc bệnh Crohn có thể là nguyên nhân gây xuất huyết trực tràng. Đại tiện phân máu nhìn thấy được ± phân nhầy và mót rặn có thể xảy ra trong viêm trực tràng. Viêm đại tràng gây ỉa chảy phân máu với đau quặn vùng bụng dưới từng cơn và thường gây rối loạn hệ thống cơ thể. Nội soi và sinh thiết đại tràng có thể giúp xác định chẩn đoán, các marker chẩn đoán viêm cung cấp những thông tin hữu ích về tiến triển của bệnh.

Khiếm khuyết ở động tĩnh mạch

Đây là một nguyên nhân quan trọng của xuất huyết tiêu hóa dưới nặng, đặc biệt ở người lớn tuổi. Đặc điểm điển hình trên nội soi có thể xuất hiện tuy nhiên chẩn đoán bệnh cảnh này là một thách thức và chảy máu thường xuyên bị tái phát.

Những nguyên nhân khác

Tình trạng chảy máu nặng ồ ạt ở đường tiêu hóa trên có thể gây ra đại tiện phân máu đỏ tươi.

Nhiễm trùng xâm nhập đường tiêu hóa có thể gây ra tiêu chảy phân máu, thường kèm theo rối loạn hệ thống cơ thể.

Viêm đại tràng thiếu máu cục bộ (Ischaemic colitis), gây ra bởi tình trạng tắc nghẽn cấp tính ở động mạch mạc treo tràng dưới, có khuynh hướng xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi và có thể gây chảy máu nặng kèm đau bụng hạ vị.

Viêm đại trực tràng do nhiễm xạ nên được lưu ý ở bệnh nhân có tiền sử chiếu xạ ở khung chậu, ví dụ ung thư tiền liệt tuyến hoặc bệnh lý ác tính phụ khoa, thường xảy ra trong vòng 2 năm kể từ khi bắt đầu chiếu xạ.

Loét đại tràng là nguyên nhân ít phổ biến gây chảy máu, thường lên quan đến tiền sử sử dụng NSAIDS.

Bài viết cùng chuyên mục

Ho ra máu: đánh giá các nguyên nhân thường gặp

Phù phổi có thể gây khạc đàm bọt hồng nhưng khó thở hầu như luôn là triệu chứng chủ yếu. Các nguyên nhân khác bao gồm tăng áp phổi, rối loạn đông máu, hít phải dị vật, chấn thương ngực, u hạt Wegener và hội chứng Goodpasture.

Đau đầu: đánh giá triệu chứng lâm sàng biểu hiện màng não

Nhận diện bệnh nhân viêm màng não do vi khuẩn là ưu tiên hàng đầu cho phép điều trị kháng sinh nhanh chóng để cứu sống bệnh nhân. Bệnh nhân có thể thiếu các biểu hiện kinh điển nhưng hầu hết các trường hợp sẽ có ít nhất một biểu hiện.

Ngất: phân tích triệu chứng để chẩn đoán và điều trị

Ngất có thể được phân loại bằng cách sử dụng các hệ thống khác nhau từ các tình trạng ác tính và lành tính đến các tình trạng do tim và không do tim.

Các xét nghiệm cơ bản: chỉ định khi thăm khám bệnh

Các xét nghiệm được khuyến cáo cho những bối cảnh lâm sàng khác được trình bày ở các bệnh tương ứng. Trong một số bệnh cũng cung cấp thêm những hướng dẫn chi tiết cách tiếp cận kết quả xét nghiệm.

Tiếp cận bệnh nhân, Tuân thủ điều trị

Phỏng vấn thu thập thông tin hỗ trợ chẩn đoán, hướng dẫn tuân thủ điều trị thuốc, hướng dẫn chế độ sinh hoạt của bệnh nhân và nguyên tắc đạo đức giữa bác sỹ và bệnh nhân

Khí máu động mạch: công cụ tiếp cận bệnh nhân khó thở cấp

Giảm PaCO2 gợi ý tình trạng tăng thông khí. Nếu PaO2 thấp hơn (hoặc chỉ trong giới hạn bình thường), sự tăng thông khí có thể là một đáp ứng thích hợp đối với sự giảm oxy máu.

Đánh trống ngực: đánh giá dựa trên loại rối loạn nhịp tim

Đánh giá tần suất và cường độ của các triệu chứng và ảnh hưởng lên nghề nghiệp và lối sống. Xác minh hiệu quả và tác dụng phụ của những đợt điều trị trước.

Mụn nước và bọng nước: phân tích triệu chứng

Có nhiều nguyên nhân chúng bao gồm nhiễm herpes simplex, chàm tổ đỉa và viêm da tiếp xúc, các nguyên nhân tự miễn dịch như pemphigoid bọng nước và bệnh ly biểu bì bóng nước.

Lách to: phân tích triệu chứng

Nhiều nguyên nhân gây lách to có thể được nhóm thành các loại sau: giải phẫu, huyết học, nhiễm trùng, miễn dịch, ung thư, thâm nhiễm và xung huyết.

Thăm khám tình trạng bệnh nhân kèm theo các dấu hiệu cấp cứu

Trong thăm khám tình trạng kèm theo các dấu hiệu cấp cứu, ghi lại tiền sử từ bệnh nhân, người thân của bệnh nhân, nhân viên khoa cấp cứu hoặc những người xung quanh.

Quang tuyến vú bất thường: phân tích triệu chứng

Sàng lọc rộng rãi bằng chụp nhũ ảnh và những tiến bộ trong điều trị đã dẫn đến giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú.

Định hướng chẩn đoán mệt mỏi

Mệt mỏi là tình trạng kiệt quệ về thể chất và hoặc tinh thần, điều này rất phổ biến và không đặc hiệu, do vậy mà việc xác định tình trạng bệnh nền gặp nhiều khó khăn.

Khám bệnh: những triệu chứng không thể tìm ra tổn thương thực thể

Những bệnh nhân với bệnh lý mạn tính thì có nhiều khả năng biểu hiện những khía cạnh về tâm lý trong tình trạng của họ (đặc biệt là trầm cảm), và nó có thể ảnh hưởng lên hình thái lâm sàng.

Vàng da: phân tích triệu chứng

Bilirubin được hình thành chủ yếu thông qua sự phân hủy trao đổi chất của các vòng heme, chủ yếu là từ quá trình dị hóa của các tế bào hồng cầu.

Đau ngực cấp: phân tích đặc điểm điện tâm đồ và các triệu chứng lâm sàng

Nếu có ST chênh lên nhưng không phù hợp những tiêu chuẩn, làm lại điện tâm đồ thường xuyên và xử trí như bệnh nhân nhồi máu cơ tim không ST chênh lên/ đau thắt ngực không ổn định.

Đau đầu gối: phân tích triệu chứng

Đau đầu gối có nhiều nguyên nhân như chấn thương cấp tính, lạm dụng, viêm hoặc thoái hóa khớp, nhiễm trùng và các vấn đề khác. Đau quy chiếu từ hông hoặc lưng dưới cũng có thể dẫn đến đau đầu gối.

Tập thể dục: phòng ngừa bệnh tật

Tập thể dục - Phòng ngừa bệnh tật! Tập thể dục thường xuyên có nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ, tăng huyết áp, tăng lipid máu, bệnh tiểu đường loại 2, bệnh túi thừa và loãng xương thấp hơn...

Phết tế bào cổ tử cung bất thường: phân tích triệu chứng

Hầu hết bệnh nhân mắc chứng loạn sản cổ tử cung đều không có triệu chứng. Cũng có thể xuất hiện bằng chứng khi xem bên ngoài bao cao su, tiết dịch âm đạo hoặc thậm chí chảy máu âm đạo.

Mục tiêu của việc thăm khám lâm sàng

Hiệu lực của một phát hiện vật lý phụ thuộc vào nhiều yếu tố, kinh nghiệm lâm sàng và độ tin cậy của các kỹ thuật khám là quan trọng nhất.

Sưng khớp: đánh giá các triệu chứng và nguyên nhân

Ở bệnh nhân trẻ tuổi không có tiền sử chấn thương, đã loại trừ được viêm khớp nhiễm khuẩn, sự xuất hiện của bất cứ triệu chứng nào sau đây là dấu hiệu gợi ý cao của viêm khớp phản ứng.

Mất trí nhớ ở người cao tuổi

Mặc dù không có sự đồng thuận hiện nay vào việc bệnh nhân lớn tuổi nên được kiểm tra bệnh mất trí nhớ, lợi ích của việc phát hiện sớm bao gồm xác định các nguyên nhân.

Trầm cảm: phân tích để chẩn đoán và điều trị

Để được chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm, bệnh nhân phải trải qua năm triệu chứng trở lên và phải có tâm trạng chán nản và hoặc giảm hứng thú trong 2 tuần.

Phòng chống loãng xương

Nguy cơ của loãng xương là gãy xương khoảng 5o phần trăm đối với phụ nữ và 30 phần trăm đối với nam giới, Loãng xương gãy xương có thể gây đau đáng kể và tàn tật

Rối loạn thăng bằng: các nguyên nhân cảm giác mất thăng bằng

Sự cân bằng đòi hỏi tín hiệu vào từ nhiều bộ phận cảm thụ cảm giác (thị giác, tiền đình, xúc giác, cảm giác bản thể). Giảm chức năng nhi ều hơn một trong các bộ phận này, dù rất nhỏ cũng có thể gây mất thăng bằng.

Lú lẫn: mê sảng và mất trí

Chẩn đoán phân biệt mê sảng thường rộng và gặp trong bệnh nhân có não dễ bị tổn thương, bao gồm hầu hết các bệnh lý cơ thể cấp tính, sang chấn tinh thần hay các chấn thương do môi trường bên ngoài gây ra.