- Trang chủ
- Thông tin
- Chẩn đoán và điều trị theo y học hiện đại
- Tiêu chảy tái phát (mãn tính): phân tích đặc điểm lâm sàng
Tiêu chảy tái phát (mãn tính): phân tích đặc điểm lâm sàng
Tiến hành khám xét đại trực tràng để loại trừ ung thư/bệnh lý ruột viêm nếu bệnh nhân bị tiêu chảy kéo dài kèm theo với bất kỳ dấu hiệu: chảy máu khi thăm khám trực tràng, khối sờ thấy vùng bụng/trực tràng, sụt cân, thiếu máu thiếu sắt.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Phân cứng hoặc nén chặt khi thăm trực tràng
Nghi ngờ cao đến tiêu chảy do quá tải ở những người già yếu, bất động hoặc những người lú lẫn ý thức. Luôn tiến hành thăm khám trực tràng. Nếu như phân cứng hoặc nén chặt, điều trị với thuốc làm mềm phân và nhuận tràng, sau đó đánh giá lại. Nếu như thăm khám trực tràng bình thường, tiêu chảy do quá tải ít có khả năng (90% sự nén chặt phân là ở trực tràng), nhưng cân nhắc chụp XQuang bụng nếu như lâm sàng nghi ngờ cao.
Phân mỡ
Phân mỡ được tạo ra bởi sự kém hấp thu chất béo nhưng nếu không có thì cũng không loại trừ được các rối loạn hấp thu. Nếu có phân mỡ, cần đảm bảo rằng bệnh nhân không sử dụng orlistat (một loại thuốc không kê đơn) và kiểm tra huyết thanh coeliac và elastase trong phân (giảm trong suy tụy). Nếu như giảm elastase trong phân hoặc nghi ngờ cao đến bệnh lý tụy, ví dụ xơ hóa nang hoặc các triệu chứng gợi ý viêm tụy mạn, cân nhắc làm xét nghiệm hình ảnh học tụy (CT/MRCP); Ngược lại, cân nhắc thực hiện các khám xét ruột non như sinh thiết tá tràng, MRI. Tầm soát thiếu hụt dinh dưỡng, ví dụ sắt, B12, folate, Ca2+, Mg2+, PO43-, albumin, ở bất kỳ bệnh nhân nào nghi ngờ đến kém hấp thu.
Đặc điểm báo động
Tiến hành khám xét đại trực tràng để loại trừ ung thư/bệnh lý ruột viêm nếu bệnh nhân bị tiêu chảy kéo dài kèm theo với bất kỳ dấu hiệu:
Chảy máu khi thăm khám trực tràng;
Khối sờ thấy vùng bụng/trực tràng;
Sụt cân;
Thiếu máu thiếu sắt;
Mới xuất hiện ở người > 45 tuổi.
Cân nhắc nội soi đại tràng sigma với ống soi mềm như là thám xét đầu tiên cần tiến hành ở những bệnh nhân < 45 tuổi và nội soi đại tràng ở người > 45 tuổi.
Khả năng do thuốc
Tìm kiếm mối liên quan tạm thời giữa các thuốc có khả năng và việc khởi phát tiêu chảy. Xem xét thử ngưng sử dụng khi có thể nhưng chỉ thay đổi một loại ở một thời điểm và bắt đầu lại thuốc đó nếu các triệu chứng vẫn tiếp tục không thay đổi. Đồng thời phải luôn luôn hỏi bệnh nhân về việc có sử dụng quá nhiều rượu không.
Nguy cơ nhiễm trùng đặc hiệu
Loại trừ nhiễm trùng kí sinh trùng ở những bệnh nhân có tiền sử du lịch đến vùng nhiệt đới, ví dụ nhiễm giardia, amíp hoặc nhiễm HIV đã biết/suy giảm miễn dịch khác, ví dụ nhiễm cryptosporidia - gửi 3 mẫu phân tươi để xét nghiệm tìm kí sinh trùng và nang trứng. Liên lạc với chuyên khoa truyền nhiễm nếu như kết quả các mẫu phân âm tính nhưng trên lâm sàng nghi ngờ cao đến tiêu chảy do nhiễm trùng. Xét nghiệm HIV ở bất kỳ bệnh nhân nào bị tiêu chảy mạn tính và có các yếu tố nguy cơ.
Tiêu chảy do C.difficile có thể xảy ra mạn tính hoặc tái phát - gửi mẫu phân để kiểm tra carbohydrate-deficient transferrin ở bất kỳ bệnh nhân nào có các yếu tố nguy cơ.
Lâm sàng hoặc xét nghiệm nghi ngờ cao đến bệnh lý cơ quan
Tầm soát chứng cường giáp, tăng canxi máu và bệnh coeliac. Chuyển chuyên khoa tiêu hóa để thực hiện các thám xét ruột non nếu như tiêu chảy phân không có máu, lượng lớn mà có phẫu thuật ruột non / dạ dày trước đó hoặc có bằng chứng thiếu hụt dinh dưỡng: albumin, B, folate, Ca2+, Mg2+, PO4 3-. Loại trừ bệnh lý ruột viêm nếu như có tiền sử gia đình dương tính, loét miệng, sốt, tăng CRP/VS hoặc bệnh cảnh ngoài ruột. Chuyển khoa tiêu hóa để đánh giá bổ sung nếu như có bất kỳ đặc điểm nào trên hoặc những dấu hiệu khác gợi ý bệnh lý thực thể, ví dụ sụt cân, chán ăn, tiêu chảy không đau, các triệu chứng chủ yếu xảy ra vào ban đêm hoặc mới khởi phát gần đây ở bệnh nhân > 45 tuổi.
Khả năng rối loạn chức năng
Nếu như không có đặc điểm nào trên, có nhiều khả năng do các nguyên nhân chức năng, ví dụ hội chứng ruột kích thích, đặc biệt khi có các triệu chứng điển hình. Trấn an và giải thích cho bệnh nhân nhưng cần chuyển chuyên khoa tiêu hóa nếu như các triệu chứng tiến triển, gây lo lắng hoặc hạn chế hoạt động bình thường ở bệnh nhân.
Bài viết cùng chuyên mục
Đau đầu: đánh giá các nguyên nhân thường gặp
Đau đầu là triệu chứng rất thường gặp và thường lành tính. Điều thách thức là phải nhận ra số ít bệnh nhân có bệnh lý nghiêm trọng hoặc cần điều trị đặc hiệu.
Triệu chứng và dấu hiệu bệnh hô hấp
Triệu chứng bao gồm Khó thở, ho dai dẳng, thở rít, thở khò khè, ho ra máu, Dấu hiệu Thở nhanh, mạch nghich thường, tím tái, ngón tay dúi trống, gõ vang.
Đau bụng kinh: phân tích triệu chứng
Đau bụng kinh có thể được định nghĩa là cơn đau quặn thắt tái phát trong hoặc ngay trước khi hành kinh. Đây là triệu chứng phụ khoa phổ biến nhất được ghi nhận bởi phụ nữ.
Đánh giá bệnh nhân: hướng dẫn thực hành
Những bệnh nhân bị bệnh cấp tính đòi hỏi cần được lượng giá một cách nhanh chóng theo các bước ABCDE với những trường hợp đe dọa tính mạng hoặc có sự xáo trộn lớn về sinh lý.
Đánh trống ngực: đánh giá bệnh cảnh khi thăm khám
Nhiều bệnh nhân với đánh trống ngực mô tả nhịp tim mạnh và rõ hơn là nhanh, chậm hay bất thường. Điều này phản ánh tình trạng tăng thể tích tống máu như hở chủ, thiếu máu, dãn mạch, hoặc chỉ là chú ý đến nhịp tim.
Tiết dịch âm đạo (khí hư): phân tích triệu chứng
Tiết dịch âm đạo có thể là sinh lý hoặc bệnh lý. Khi giải phẫu bệnh, người ta báo cáo rằng 90% phụ nữ bị ảnh hưởng mắc bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn, bệnh nấm candida âm hộ-âm đạo hoặc bệnh trichomonas.
Thiếu vitamin D: phân tích triệu chứng
Khi sự hấp thụ canxi ở ruột không cung cấp đủ canxi để duy trì mức canxi máu bình thường, Vit D sẽ ức chế các tế bào tạo xương và kích hoạt các tế bào hủy xương để huy động canxi từ xương.
Phân tích triệu chứng ngủ nhiều để chẩn đoán và điều trị
Ngủ nhiều quá mức nên được phân biệt với mệt mỏi tổng quát và mệt mỏi không đặc hiệu, vì bệnh nhân thường sử dụng các thuật ngữ thay thế cho nhau.
Bệnh nhân hen phế quản cấp: những đánh giá bổ sung khi thăm khám
Đặc điểm cần quan tâm, ví dụ hen gần tử vong trước đó, kém dung nạp điều trị. Nếu như những đặc điểm nặng vẫn tiếp tục, theo dõi ở môi trường chăm sóc tích cực với đánh giá lặp lại với các chỉ số SpO2, PEFR.
Đau bụng cấp: vàng da đáp ứng viêm và tính chất của đau quặn mật
Giả định nhiễm trùng đường mật ít nhất là lúc đầu, nếu bệnh nhân không khỏe với sốt cao ± rét run hoặc vàng da tắc mật; cho kháng sinh tĩnh mạch, và nếu siêu âm xác nhận giãn đường mật, chuyển phẫu thuật ngay lập tức để giảm áp lực đường mật.
Khai thác tiền sử: hướng dẫn khám bệnh
Những thông tin chi tiết về tiền sử sử dụng thuốc thường được cung cấp tốt hơn bởi lưu trữ của bác sĩ gia đình và những ghi chú ca bệnh hơn là chỉ hỏi một cách đơn giản bệnh nhân, đặc biệt lưu tâm đến các kết quả xét nghiệm trước đây.
Tiểu máu: phân tích triệu chứng
Tiểu máu đại thể với sự đổi màu đỏ rõ ràng, lớn hơn 50 tế bào hồng cầu/trường năng lượng cao hoặc tiểu máu vi thể được phát hiện bằng que nhúng sau đó kiểm tra bằng kính hiển vi.
Đau bụng cấp: bệnh nhân rất nặng với chỉ số hình ảnh và xét nghiệm
Nếu xquang ngực không chứng minh có khí tự do hoặc tương đương nhưng nghi ngờ trên lâm sàng cao như đau bụng dữ dội khởi phát đột ngột với tăng cảm giác đau, đề kháng vùng thượng vị, cho chụp CT nhưng trước tiên cho làm amylase và ECG.
Suy dinh dưỡng và yếu đuối ở người cao tuổi
Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và X quang hữu ích cho các bệnh nhân có giảm cân bao gồm máu toàn phần, chất huyết thanh bao gồm glucose, TSH, creatinine, canxi
Đau đầu: đánh giá triệu chứng lâm sàng biểu hiện màng não
Nhận diện bệnh nhân viêm màng não do vi khuẩn là ưu tiên hàng đầu cho phép điều trị kháng sinh nhanh chóng để cứu sống bệnh nhân. Bệnh nhân có thể thiếu các biểu hiện kinh điển nhưng hầu hết các trường hợp sẽ có ít nhất một biểu hiện.
Phòng chống thương tích và bạo lực
Giết người và tai nạn xe cơ giới là một nguyên nhân chính gây tử vong liên quan đến thương tích ở người trưởng thành trẻ tuổi
Đau thắt lưng: khám cột sống thắt lưng
Việc khám nên bắt đầu khi gặp bệnh nhân lần đầu và tiếp tục theo dõi, quan sát dáng đi và tư thế, không nhất quán giữa chức năng và hoạt động có thể phân biệt giữa nguyên nhân thực thể và chức năng đối với các triệu chứng.
Phân tích triệu chứng chóng mặt để chẩn đoán và điều trị
Triệu chứng chóng mặt có thể bao gồm ngất xỉu, choáng váng, lâng lâng hoặc đứng không vững, chóng mặt thực sự, cảm giác chuyển động bất thường hoặc quay cuồng.
Chảy máu trực tràng: phân tích triệu chứng
Đánh giá ban đầu nên xác định mức độ nghiêm trọng và sự ổn định huyết động của bệnh nhân và xác định nguồn gốc của chảy máu là đường tiêu hóa trên hoặc dưới về bản chất.
Khối u ở vú: phân tích triệu chứng
Đánh giá khối u ở vú nên bắt đầu bằng việc hỏi bệnh sử đầy đủ và khám thực thể. Điều quan trọng là phải xác định nguy cơ mắc bệnh ung thư vú của bệnh nhân.
Đau thắt ngực từng cơn: đánh giá triệu chứng đau ngực
Nhiều bệnh nhân không thể chẩn đoán chắc chắn. Đánh giá lại những bệnh nhân mà xét nghiệm không đi đến kết luận đau thắt ngực hoặc nguy cơ cao bệnh mạch vành nếu triệu chứng dai dẳng.
Thăm khám tình trạng bệnh nhân kèm theo các dấu hiệu cấp cứu
Trong thăm khám tình trạng kèm theo các dấu hiệu cấp cứu, ghi lại tiền sử từ bệnh nhân, người thân của bệnh nhân, nhân viên khoa cấp cứu hoặc những người xung quanh.
Rung giật nhãn cầu: phân tích triệu chứng
Rung giật nhãn cầu có thể liên quan đến những bất thường của hệ thần kinh trung ương hoặc ngoại biên, mặc dù trong nhiều trường hợp, nguyên nhân chính xác có thể không được xác định.
Insulin tiêm dưới da cho bệnh nhân nằm viện: phác đồ và mục tiêu điều trị
Có khoảng ba mươi phần trăm, bệnh nhân nhập viện bị tăng đường huyết, nhiều bệnh nhân trong số này có tiền sử đái tháo đường trước đó
Tim to: phân tích triệu chứng
Tim to là do quá tải áp lực và phì đại cơ của một hoặc nhiều buồng tim, quá tải thể tích với sự giãn nở của các buồng tim hoặc bệnh cơ tim.
