Tiêu chảy tái phát (mãn tính): phân tích đặc điểm lâm sàng

2020-12-22 12:04 PM

Tiến hành khám xét đại trực tràng để loại trừ ung thư/bệnh lý ruột viêm nếu bệnh nhân bị tiêu chảy kéo dài kèm theo với bất kỳ dấu hiệu: chảy máu khi thăm khám trực tràng, khối sờ thấy vùng bụng/trực tràng, sụt cân, thiếu máu thiếu sắt.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Phân cứng hoặc nén chặt khi thăm trực tràng

Nghi ngờ cao đến tiêu chảy do quá tải ở những người già yếu, bất động hoặc những người lú lẫn ý thức. Luôn tiến hành thăm khám trực tràng. Nếu như phân cứng hoặc nén chặt, điều trị với thuốc làm mềm phân và nhuận tràng, sau đó đánh giá lại. Nếu như thăm khám trực tràng bình thường, tiêu chảy do quá tải ít có khả năng (90% sự nén chặt phân là ở trực tràng), nhưng cân nhắc chụp XQuang bụng nếu như lâm sàng nghi ngờ cao.

Phân mỡ

Phân mỡ được tạo ra bởi sự kém hấp thu chất béo nhưng nếu không có thì cũng không loại trừ được các rối loạn hấp thu. Nếu có phân mỡ, cần đảm bảo rằng bệnh nhân không sử dụng orlistat (một loại thuốc không kê đơn) và kiểm tra huyết thanh coeliac và elastase trong phân (giảm trong suy tụy). Nếu như giảm elastase trong phân hoặc nghi ngờ cao đến bệnh lý tụy, ví dụ xơ hóa nang hoặc các triệu chứng gợi ý viêm tụy mạn, cân nhắc làm xét nghiệm hình ảnh học tụy (CT/MRCP); Ngược lại, cân nhắc thực hiện các khám xét ruột non như sinh thiết tá tràng, MRI. Tầm soát thiếu hụt dinh dưỡng, ví dụ sắt, B12, folate, Ca2+, Mg2+, PO43-, albumin, ở bất kỳ bệnh nhân nào nghi ngờ đến kém hấp thu.

Đặc điểm báo động

Tiến hành khám xét đại trực tràng để loại trừ ung thư/bệnh lý ruột viêm nếu bệnh nhân bị tiêu chảy kéo dài kèm theo với bất kỳ dấu hiệu:

Chảy máu khi thăm khám trực tràng;

Khối sờ thấy vùng bụng/trực tràng;

Sụt cân;

Thiếu máu thiếu sắt;

Mới xuất hiện ở người > 45 tuổi.

Cân nhắc nội soi đại tràng sigma với ống soi mềm như là thám xét đầu tiên cần tiến hành ở những bệnh nhân < 45 tuổi và nội soi đại tràng ở người > 45 tuổi.

Khả năng do thuốc

Tìm kiếm mối liên quan tạm thời giữa các thuốc có khả năng và việc khởi phát tiêu chảy. Xem xét thử ngưng sử dụng khi có thể nhưng chỉ thay đổi một loại ở một thời điểm và bắt đầu lại thuốc đó nếu các triệu chứng vẫn tiếp tục không thay đổi. Đồng thời phải luôn luôn hỏi bệnh nhân về việc có sử dụng quá nhiều rượu không.

Nguy cơ nhiễm trùng đặc hiệu

Loại trừ nhiễm trùng kí sinh trùng ở những bệnh nhân có tiền sử du lịch đến vùng nhiệt đới, ví dụ nhiễm giardia, amíp hoặc nhiễm HIV đã biết/suy giảm miễn dịch khác, ví dụ nhiễm cryptosporidia - gửi 3 mẫu phân tươi để xét nghiệm tìm kí sinh trùng và nang trứng. Liên lạc với chuyên khoa truyền nhiễm nếu như kết quả các mẫu phân âm tính nhưng trên lâm sàng nghi ngờ cao đến tiêu chảy do nhiễm trùng. Xét nghiệm HIV ở bất kỳ bệnh nhân nào bị tiêu chảy mạn tính và có các yếu tố nguy cơ.

Tiêu chảy do C.difficile có thể xảy ra mạn tính hoặc tái phát - gửi mẫu phân để kiểm tra carbohydrate-deficient transferrin ở bất kỳ bệnh nhân nào có các yếu tố nguy cơ.

Lâm sàng hoặc xét nghiệm nghi ngờ cao đến bệnh lý cơ quan

Tầm soát chứng cường giáp, tăng canxi máu và bệnh coeliac. Chuyển chuyên khoa tiêu hóa để thực hiện các thám xét ruột non nếu như tiêu chảy phân không có máu, lượng lớn mà có phẫu thuật ruột non / dạ dày trước đó hoặc có bằng chứng thiếu hụt dinh dưỡng: albumin, B, folate, Ca2+, Mg2+, PO4 3-. Loại trừ bệnh lý ruột viêm nếu như có tiền sử gia đình dương tính, loét miệng, sốt, tăng CRP/VS hoặc bệnh cảnh ngoài ruột. Chuyển khoa tiêu hóa để đánh giá bổ sung nếu như có bất kỳ đặc điểm nào trên hoặc những dấu hiệu khác gợi ý bệnh lý thực thể, ví dụ sụt cân, chán ăn, tiêu chảy không đau, các triệu chứng chủ yếu xảy ra vào ban đêm hoặc mới khởi phát gần đây ở bệnh nhân > 45 tuổi.

Khả năng rối loạn chức năng

Nếu như không có đặc điểm nào trên, có nhiều khả năng do các nguyên nhân chức năng, ví dụ hội chứng ruột kích thích, đặc biệt khi có các triệu chứng điển hình. Trấn an và giải thích cho bệnh nhân nhưng cần chuyển chuyên khoa tiêu hóa nếu như các triệu chứng tiến triển, gây lo lắng hoặc hạn chế hoạt động bình thường ở bệnh nhân.

Bài viết cùng chuyên mục

Điều trị đau không dùng thuốc và diễn biến cuối đời

Nhiều bệnh nhân bị bệnh nan y chết trong tình trạng mê sảng, rối loạn ý thức và một sự thay đổi nhận thức mà phát triển trong một thời gian ngắn và được thể hiện bằng cách giải thích sai

Mê sảng: phân tích để chẩn đoán và điều trị

Cơ chế sinh học thần kinh của mê sảng chưa được hiểu rõ, nhưng một giả thuyết bao gồm mối quan hệ với hoạt động giảm acetycholine.

Nhiễm trùng đường hô hấp: những đánh giá bổ sung khi thăm khám

Ở những bệnh nhân khỏe mạnh trước đó mà không có dấu hiệu ngực khu trú hoặc bất thường trên XQ phổi, chẩn đoán nhiều khả năng là nhiễm trùng hô hấp không viêm phổi, ví dụ viêm phế quản cấp.

Dấu hiệu bệnh lý: các bước thăm khám và chỉ định xử trí

Nếu như có dấu hiệu suy hô hấp và tràn khí màng phổi áp lực, tiến hành chọc kim hút khí cấp cứu ngay. Nếu như ran rít khắp cả lan tỏa, kiểm tra dấu hiệu của shock phản vệ. Nếu có, xử trí theo mô tả; ngược lại tiến hành thở khí dung giãn phế quản.

Hôn mê và rối loạn ý thức: đánh giá chẩn đoán nguyên nhân

Giảm điểm glasgows thường phổ biến sau cơn co giật, nhưng nhớ rằng khởi phát cơn co giật có thể được làm dễ bởi nhiều nguyên nhân bao gồm hạ glucose máu, chấn thương đầu ± tụ máu nội sọ, hội chứng cai rượu, quá liều thuốc.

Rối loạn sắc tố: phân tích triệu chứng

Với một số rối loạn sắc tố, nguyên nhân có thể dễ dàng được xác định là do di truyền, do ánh nắng mặt trời, do thuốc, nhiễm trùng hoặc viêm. Trong một số trường hợp, nguyên nhân ít rõ ràng hơn.

Trầm cảm ở người cao tuổi

Nói chung, fluoxetine được tránh vì thời gian hoạt động dài của nó và thuốc chống trầm cảm ba vòng cũng được tránh vì tác dụng phụ kháng cholinergic cao

Brain natriuretic peptide: phân tích triệu chứng

Brain natriuretic peptide cung cấp một cách để chẩn đoán và quản lý điều trị suy tim sung huyết và một loạt các bệnh khác có ảnh hưởng thứ phát đến tim.

Yếu chi: đánh giá triệu chứng trên bệnh cảnh lâm sàng

Yếu chi một bên có thể do nhiều nguyên nhân không đột quỵ gây ra và không nên vội vàng lờ đi các nguyên nhân này để có thể kiểm soát thích hợp.

Bệnh Raynaud: phân tích triệu chứng

Căng thẳng và lạnh là nguyên nhân lớn nhất gây ra các cơn co thắt, các cơn co thắt có thể kéo dài vài phút đến vài giờ, có ba giai đoạn thay đổi màu sắc.

Suy giáp: phân tích triệu chứng

Nguyên nhân phổ biến nhất của suy giáp nguyên phát là viêm tuyến giáp tự miễn, hoặc bệnh Hashimoto, là kết quả của sự phá hủy dần dần tuyến giáp bởi các tế bào T.

Xét nghiệm Covid-19: hướng dẫn thu thập và xử lý bệnh phẩm

Đối với xét nghiệm chẩn đoán ban đầu với các trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 hiện tại, khuyến nghị nên thu thập và xét nghiệm bệnh phẩm đường hô hấp trên.

Lách to: phân tích triệu chứng

Nhiều nguyên nhân gây lách to có thể được nhóm thành các loại sau: giải phẫu, huyết học, nhiễm trùng, miễn dịch, ung thư, thâm nhiễm và xung huyết.

Đau một khớp: phân tích triệu chứng

Đau khớp một bên có nhiều nguyên nhân. Đau một khớp cấp tính thường gặp nhất là do chấn thương, nhiễm trùng, viêm xương khớp hoặc các tình trạng do tinh thể gây ra.

Sưng bìu: phân tích đặc điểm triệu chứng lâm sàng

Cân nhắc cận lâm sàng thám xét ban đầu với siêu âm bìu nếu bệnh cảnh lâm sàng gợi ý chẩn đoán thay thế như viêm tinh hoàn mào tinh, ví dụ dịch mủ niệu đạo, đau khu trú ở mào tinh, tuổi trên 30.

Nốt phổi đơn độc: phân tích triệu chứng

Nốt phổi đơn độc được coi là một nốt mờ trên phim X quang đơn độc có hình cầu và giới hạn rõ, đường kính nhỏ hơn 3 cm, bao quanh bởi phổi và không kèm theo xẹp phổi, phì đại rốn phổi hoặc tràn dịch màng phổi.

Viêm gan: phân tích triệu chứng

Viêm gan A phổ biến nhất đối với viêm gan cấp tính và viêm gan B và viêm gan C hầu hết dẫn đến nhiễm trùng mãn tính. Vi-rút viêm gan D có thể đồng nhiễm hoặc bội nhiễm. Viêm gan E ở các quốc gia kém phát triển.

Yếu chi: phân tích các đặc điểm lâm sàng

Nếu biểu hiện hiện tại của yếu chi chỉ giới hạn ở một bên của cơ thể thì đánh giá như yếu chi một bên. Mặt khác, tiếp tục theo các cách thức chẩn đoán hiện tại thậm chí nếu các triệu chứng không đối xứng rõ ràng.

Sốt: mở rộng tầm soát nhiễm trùng ở từng nhóm bệnh nhân

Nếu sốt đi kèm tiêu chảy, cách ly bệnh nhân, chú ý tiền sử đi du lịch gần đây và tiến hành lấy mẫu phân xét nghiệm. Nhanh chóng hội chẩn với khoa vi sinh và truyền nhiễm nếu có nghi ngờ bệnh tả, ví dụ ở người làm việc ở khu vực có nguy cơ cao.

Nguy cơ tự tử: phân tích để chẩn đoán và điều trị

Tự tử thường được coi là một quyết định đạo đức mâu thuẫn với nhiều giá trị tôn giáo và xã hội, đối với nhiều cá nhân cố gắng hoặc tự tử, chất lượng cuộc sống đã trở nên cạn kiệt đến mức không còn lựa chọn nào khác.

Tiếng thổi tâm trương: phân tích triệu chứng khi nghe tim

Tiếng thổi tâm trương thường do hẹp van hai lá hoặc van ba lá hoặc hở van động mạch chủ hoặc van động mạch phổi, tiếng thổi tâm trương thường không được coi là bệnh lý.

Chóng mặt và choáng váng: các nguyên nhân

Thỉnh thoảng, thay đổi ý thức thoáng qua hay khiếm khuyết thần kinh khu trú được mô tả như là choáng váng. Tuy nhiên hầu hết bệnh nhân với choáng váng có chóng mặt, đau đầu nhẹ, muốn xỉu/ cảm giác mất thăng bằng.

Bệnh tiêu chảy: đánh giá đặc điểm

Tiêu chảy có thể đi kèm với sốt, đau quặn bụng, đại tiện đau, phân nhầy và/hoặc phân có máu, ngoài ra, thời gian tiêu chảy có tầm quan trọng lâm sàng đáng kể.

Triệu chứng và dấu hiệu bệnh tim

Các triệu chứng khó thở, đau ngực, hồi hộp, choáng và ngất, phù, các dấu hiệu tím, xanh tái, khó thở nhanh, ran hai đáy phổi, mạch đập vùng trước tim.

Tiết dịch niệu đạo: phân tích triệu chứng

Tiết dịch niệu đạo có thể nhiều hoặc ít, trong, hơi vàng hoặc trắng, có mủ, mủ nhầy hoặc huyết thanh, nâu, xanh lá cây hoặc có máu, mủ chảy nước hoặc mủ đặc.