- Trang chủ
- Thông tin
- Chẩn đoán và điều trị theo y học hiện đại
- Mất ý thức thoáng qua: phân tích triệu chứng lâm sàng
Mất ý thức thoáng qua: phân tích triệu chứng lâm sàng
Xem như là mất ý thức thoáng qua nếu nhân chứng xác định có một khoảng thời gian không có đáp ứng, bệnh nhân mô tả thức dậy hoặc tỉnh lại trên mặt đất, đặc biệt không có ký ức về việc té ngã gì trước đó, hoặc có tổn thương mặt.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Xác định mất ý thức
Trong trường hợp không có những lời tường thuật từ nhân chứng một cách rõ ràng thì rất khó để xác định liệu có mất ý thức thoáng qua hay không - hãy yêu cầu bệnh nhân kể lại các sự việc càng chi tiết càng tốt:
Xem như là mất ý thức thoáng qua nếu có:
Nhân chứng xác định có một khoảng thời gian không có đáp ứng nào cả.
Bệnh nhân mô tả thức dậy hoặc tỉnh lại trên mặt đất, đặc biệt không có ký ức về việc té ngã gì trước đó.
Có tổn thương mặt (hầu hết bệnh nhân tỉnh táo có thể bảo vệ mặt khi ngã)
Không giống với mất ý thức thoáng qua nếu:
Không mất trương lực tư thế (postural tone).
Bệnh nhân nhớ được việc ngã xuống mặt đất.
Nhân chứng xác nhận có sự tương tác hoặc nhận biết được môi trường xung quanh trong suốt cơn.
Các đặc điểm của shock
Ngất có thể là bệnh cảnh của rối loạn huyết động chính như: thuyên tắc phổi diện rộng, xuất huyết tiêu hóa nặng. Nếu tìm thấy bằng chứng của Shock trong đánh giá ABCDE.
Hồi phục ý thức hoàn toàn
Sơ đồ chẩn đoán bên dưới phù hợp với cơn thoáng qua của mất ý thức thoáng qua. Nếu có bằng chứng giảm điểm glasgow kéo dài trong đánh giá ABCDE, thì đánh giá trong trường hợp đầu tiên.
Đường máu mao mạch < 3mmol/L hoặc lâm sàng có sự nghi ngờ nhiều đến hạ đường huyết
Việc quy một cơn suy giảm ý thức là do hạ Glucose máu đòi hỏi:
Chứng minh lượng Glucose máu thấp có liên quan với mất ý thức thoáng qua.
Hồi phục hoàn toàn với việc hoàn trả lại glucose máu về mức bình thường.
Chứng thực chỉ số đường máu mao mạch (BM) thấp với các phương pháp đo trong phòng thí nghiệm bất cứ khi nào có thể nhưng không đợi kết quả để mới bắt đầu điều trị. Một số bệnh nhân có thể được điều chỉnh lại điều trị trước khi đánh giá mà không có chỉ số BM. Trong những trường hợp này, nghĩ đến hạ đường huyết nếu tình trạng được giải quyết khi cho dùng carbohydrate/glucagon và đã xuất hiện các triệu chứng báo trước của hệ thần kinh tự động (vã mồ hôi, run, đói), hoặc giảm glucose thần kinh (khó tập trung, rối loạn ý thức, mất đồng vận) hoặc đã xảy ra ở bệnh nhân đang dùng Insulin hoặc sulfonylurea.
Có bất kỳ đặc điểm tim nguy hiểm
Luôn luôn phải ngoại trừ một nguyên nhân tim mạch nền nghiêm trọng gây ra mất ý thức thoáng qua. Tiếp tục theo sơ đồ chẩn đoán nhưng cho bệnh nhân nhập viện và hội chẩn với chuyên gia tim mạch.
Hơn một đặc điểm co giât hoặc một đặc điểm co giât và không có đặc điểm ngất
Phân biệt co giật và ngất là một bước chìa khóa trong quá trình đánh giá. Đặc điểm gợi ý mạnh mẽ co giật. Chú ý rằng các mô tả không rõ ràng như giật thình lình, giật cơ, đều không giúp ích gì vì cử động giống co giật có thể xảy ra đến 90% trong giai đoạn ngất. Ngược lại với co giật, các cử động bất thường trong khi ngất, thường không có tính nhịp điệu và ngắn (<15s).
Cơn mất ý thức thoáng qua.có khả năng cao là co giật nếu có >1 đặc điểm. Co giật có khả năng cao nếu có bất kì một đặc điểm nào trong bảng này xuất hiện và không có dấu hiệu chỉ điểm đặc trưng nào của ngất.
Trong cả hai trường hợp, đều chuyển đến co giật.
Có một hoặc hơn một đặc điểm ngất và không có đặc điểm co giât
Nghĩ đến ngất nếu xuất hiện bất kỳ đặc điểm nào của ngất và không có bất kỳ đặc điểm nào của co giật.
Giống co giật hoặc ngất - Lấy làm chẩn đoán hiện tại nếu có thể. Cân nhắc nguyên nhân chức năng nếu đặc điểm không điển hình
Khi sự khác biệt giữa ngất và co giật không rõ ràng, các dấu hiệu lâm sàng khác có thể hữu ích như: Quên các sự kiện trước và sau cơn, đau đầu hoặc đau cơ sau cơn phù hợp hơn với chẩn đoán co giật.
Giai đoạn tiền ngất trước đó, vẻ tái nhợt được ghi nhận trong suốt quá trình mất ý thức thoáng qua., bệnh lý tim mạch đã biết và một ECG bất thường lại phù hợp với ngất. Chứng tiểu không tự chủ không phải là một dấu hiệu hữu ích để phân biệt. Cân nhắc đến các nguyên nhân chức năng nếu các đặc điểm không điển hình xuất hiện. Có thể tham khảo ý kiến chuyên gia nếu nguyên nhân vẫn còn chưa rõ ràng.
Các dấu hiệu tim mạch báo động đỏ
Mất ý thức thoáng qua.trong suốt quá trình gắng sức.
Bệnh van tim nặng, bệnh mạch vành, bệnh cơ tim.
Tiền sử gia đình có người đột tử trẻ tuổi không giải thích được.
Rối loạn nhịp thất trước đó hoặc nguy cơ cao rối loạn nhịp thất như: nhồi máu cơ tim trước đó, phẫu thuật tim.
Nhịp nhanh thất dai dẳng hoặc không dai dẳng trên hệ thống theo dõi từ xa.
Có nguy cơ cao bất thường ECG:
Block hai hoặc ba phân nhánh.
Các thay đổi sóng T hoặc đoạn ST mới.
Nhịp chậm xoang < 50 lần/phút hoặc ngừng xoang > 3giây.
Block nhĩ thất cấp hai hoặc hoàn toàn.
Bằng chứng của hội chứng kích thích sớm.
Khoảng QT kéo dài ví dụ như QTc > 500 milli giây.
Dạng Brugada: block nhánh phải với ST chênh lên ở chuyển đạo V1-V3.
Dấu hiệu lâm sàng gợi ý mạnh đến co giật
Mất ý thức thoáng qua. đi trước bởi tiền triệu điển hình như bất thường khứu giác, cảm giác phồng lên ở bụng, ảo giác.
Một nhân chứng tường thuật lại cử động bất thường cơn co cứng- co giật chi như sau:
biên độ lớn và có nhịp điệu.
Duy trì >30s (hỏi nhân chứng để xác nhận các cử động).
Một nhân chứng tường thuật rằng có xoay đầu về một bên, tư thế bất thường, xanh tím hoặc các hành động vô thức như nhai, chép môi trong suốt cơn.
Cắn lưỡi, chảy máu lưỡi hoặc có vết cắn ở bờ bên lưỡi.
Giai đoạn kéo dài (>5 phút): lú lẫn hoặc ngủ gà sau cơn.
Dấu hiệu lâm sàng gợi ý mạnh đến ngất
Mất ý thức thoáng qua sau khi đau ngực, hồi hộp, khó thở, đầu óc quay cuồng, tiền triệu trước ngất điển hình.
Mất ý thức thoáng qua xảy ra sau khi đứng dậy, sau khi đứng lâu, trong suốt quá trình gắng sức hoặc theo sau một yếu tố khởi phát điển hình như:
Hình ảnh, âm thanh, mùi vị hoặc cơn đau gây khó chịu.
Tiêm tĩnh mạch.
Tiểu tiện.
Ho.
Bữa ăn thịnh soạn.
Thời gian diễn ra mất ý thức thoáng qua ngắn (< 1 phút).
Đầu óc nhanh chóng tỉnh táo trở lại sau mất ý thức thoáng qua.
Bài viết cùng chuyên mục
Đau khớp hông: phân tích triệu chứng
Khớp hông là một trong những khớp lớn nhất trong toàn bộ cơ thể. Nó được bao quanh bởi 17 cơ và 3 dây chằng cực kỳ chắc chắn, cung cấp cho hông rất nhiều lực và phạm vi chuyển động.
Đau đầu: đánh giá triệu chứng lâm sàng biểu hiện màng não
Nhận diện bệnh nhân viêm màng não do vi khuẩn là ưu tiên hàng đầu cho phép điều trị kháng sinh nhanh chóng để cứu sống bệnh nhân. Bệnh nhân có thể thiếu các biểu hiện kinh điển nhưng hầu hết các trường hợp sẽ có ít nhất một biểu hiện.
Định hướng chẩn đoán đau ngực từng cơn
Đau ngực từng cơn có thể là cơn đau thắt ngực do tim, cũng có thể do các rối loạn dạ dày thực quản, những rối loạn của cơ xương, cơn hen phế quản hoặc lo lắng.
Bệnh tiêu chảy: đánh giá đặc điểm
Tiêu chảy có thể đi kèm với sốt, đau quặn bụng, đại tiện đau, phân nhầy và/hoặc phân có máu, ngoài ra, thời gian tiêu chảy có tầm quan trọng lâm sàng đáng kể.
Đau bụng cấp: triệu chứng kèm các dấu hiệu cảnh báo
Xét nghiệm bổ sung thường được yêu cầu ở bệnh nhân > 45 tuổi có triệu chứng mới khởi phát, sụt cân, suy sụp hoặc xét nghiệm sàng lọc bất thường.
Tiểu đêm: phân tích triệu chứng
. Sinh lý bệnh cơ bản có thể phụ thuộc vào một số vấn đề hoàn toàn là cơ học và đối với những vấn đề khác có thể liên quan đến các cơ chế nội tiết tố thần kinh phức tạp.
Hồng ban đa dạng: phân tích triệu chứng
Hồng ban đa dạng thường bao gồm các hội chứng hồng ban đa dạng nhỏ (EM), hồng ban đa dạng lớn (EMM), hội chứng Stevens-Johnson (SJS) và hoại tử biểu bì nhiễm độc (TEN).
Rong kinh: phân tích triệu chứng
Rong kinh được định nghĩa là lượng máu kinh nguyệt bị mất nhiều hơn 80 ml, xảy ra đều đặn hoặc kéo dài ≥7 ngày. việc đánh giá lượng máu mất có tiện ích hạn chế.
Khám lâm sàng: hướng dẫn thực hành thăm khám
Cần nâng cao sự ấn tượng về chức năng tâm thần cao hơn trong quá trình hỏi bệnh. Nếu phát hiện những bất thường liên quan khi thăm khám lâm sàng thường quy, tiến hành đánh giá chi tiết các hệ thống có liên quan.
Cơ sở khoa học và quan sát trong lập luận chẩn đoán bệnh lý
Đây là một trong những phần quan trọng nhất, vì nó xem xét các phương pháp và khái niệm đánh giá các dấu hiệu và triệu chứng liên quan đến lý luận chẩn đoán.
Tràn dịch màng phổi: phân tích triệu chứng
Tràn dịch màng phổi do tăng áp suất thủy tĩnh trong tuần hoàn vi mạch, giảm áp suất keo trong tuần hoàn vi mạch như giảm albumin máu và tăng áp suất âm trong khoang màng phổi.
Khó thở cấp tính: các nguyên nhân quan trọng
Khó thở cấp được định nghĩa khi khó thở mới khởi phát hoặc trở nặng đột ngột trong 2 tuần trở lại. Khi có giảm oxy máu nghiêm trọng, tăng CO2 máu, thở dốc hoặc giảm điểm glasgow thì có thể báo hiệu những bệnh lý gây nguy hiểm đến tính mạng.
Sưng khớp: đánh giá bệnh cảnh lâm sàng
Nếu nguyên nhân tại khớp thường gây sưng, nóng, đau nhiều hơn và giới hạn vận động khớp cả các động tác chủ động và thụ động. Viêm bao hoạt dịch là nguyên nhân thường gặp nhất gây ra bởi các hoạt động lặp đi lặp lại.
Khối u vú: đặc điểm ác tính và lành tính
Siêu âm là phương thức chấn đoán hình ảnh được lựa chọn cho phụ nữ dưới 35 tuổi do mô u có mật độ cao. Đánh giá bệnh học được thực hiện bằng chấn đoán tế bào học bằng chọc hút kim nhỏ hoặc sinh thiết lõi hoặc đôi khi là xẻ sinh thiết.
Lú lẫn: mê sảng và mất trí
Chẩn đoán phân biệt mê sảng thường rộng và gặp trong bệnh nhân có não dễ bị tổn thương, bao gồm hầu hết các bệnh lý cơ thể cấp tính, sang chấn tinh thần hay các chấn thương do môi trường bên ngoài gây ra.
Đau một khớp: phân tích triệu chứng
Đau khớp một bên có nhiều nguyên nhân. Đau một khớp cấp tính thường gặp nhất là do chấn thương, nhiễm trùng, viêm xương khớp hoặc các tình trạng do tinh thể gây ra.
Tiếng thở rít: phân tích triệu chứng
Thở rít thì hít vào, cho thấy có tắc nghẽn ở hoặc trên thanh quản, thở rít hai pha với tắc nghẽn tại hoặc dưới thanh quản, thở khò khè gợi ý tắc khí quản xa hoặc phế quản gốc.
Phân tích triệu chứng mệt mỏi để chẩn đoán và điều trị
Mệt mỏi có thể là do vấn đề y tế, bệnh tâm thần hoặc các yếu tố lối sống, trong một số trường hợp, nguyên nhân không bao giờ được xác định.
Ho ra máu, chẩn đoán và điều trị
Các động mạch phế quản xuất phát từ động mạch chủ hoặc động mạch liên sườn và mang máu dưới áp lực của hệ thống vào đường hô hấp, mạch máu, rốn phổi, và màng phổi tạng
Điện tâm đồ trong bóc tách động mạch chủ
Điện tâm đồ có thể bình thường hoặc có những bất thường không đặc hiệu. nếu bóc tách đến lỗ động mạch vành có thể có thay đổi điện tâm đồ như nhồi máu cơ tim có ST chênh lên.
Mờ mắt: phân tích triệu chứng
Các nguyên nhân gây mờ mắt từ nhẹ đến có khả năng gây ra thảm họa, hầu hết các nguyên nhân liên quan đến hốc mắt, mặc dù một số nguyên nhân ngoài nhãn cầu phải được xem xét.
Mất trí nhớ ở người cao tuổi
Mặc dù không có sự đồng thuận hiện nay vào việc bệnh nhân lớn tuổi nên được kiểm tra bệnh mất trí nhớ, lợi ích của việc phát hiện sớm bao gồm xác định các nguyên nhân.
Sốt: đánh giá dấu hiệu triệu chứng và các yếu tố nguy cơ
Mở rộng tầm soát nhiễm trùng ở các bệnh nhân đặc biệt. Các chủng tác nhân hiện hành thường gặp như viêm phổi có thể khác nhau tùy theo dịch tễ từng vùng, do đó hội chấn với chuyên gia truyền nhiễm ngay ở giai đoạn ban đầu.
Yếu chi: đánh giá triệu chứng trên bệnh cảnh lâm sàng
Yếu chi một bên có thể do nhiều nguyên nhân không đột quỵ gây ra và không nên vội vàng lờ đi các nguyên nhân này để có thể kiểm soát thích hợp.
Phát ban dát sẩn: phân tích triệu chứng
Khi phát ban dát sẩn có liên quan đến sốt, nên nghi ngờ nguyên nhân nhiễm trùng. Nếu không có sốt, phản ứng dị ứng thường là nguyên nhân.
