- Trang chủ
- Thông tin
- Chẩn đoán và điều trị theo y học hiện đại
- Đánh trống ngực: đánh giá dựa trên loại rối loạn nhịp tim
Đánh trống ngực: đánh giá dựa trên loại rối loạn nhịp tim
Đánh giá tần suất và cường độ của các triệu chứng và ảnh hưởng lên nghề nghiệp và lối sống. Xác minh hiệu quả và tác dụng phụ của những đợt điều trị trước.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Đánh giá tần suất và cường độ của các triệu chứng và ảnh hưởng lên nghề nghiệp và lối sống. Xác minh hiệu quả và tác dụng phụ của những đợt điều trị trước.
Nhịp nhanh xoang
Xem xét lại tất cả các thuốc kê đơn và không kê đơn, kiểm tra công thức máu toàn bộ và chức năng tuyến giáp, và nếu thích hợp, tiến hành test thử thai.
Nếu tăng huyết áp hoặc các đợt kèm theo đau đầu, đỏ mặt hoặc rối loạn tiêu hóa, định lượng metanephrine niệu 24 giờ để loại trừ u tủy thượng thận.
Đề nghị siêu âm tim nếu có bất kỳ đặc điểm nào gợi ý bệnh cấu trúc tim, như tiếng thổi không thể giải thích được, dấu hiệu của suy tim.
Tìm kiếm bằng chứng của lo âu hoặc hoảng loạn.
Ngoại tâm thu
Tìm kiếm các yếu tố làm nặng tiềm tàng bao gồm giảm K+, giảm Mg+, thuốc như chống trầm cảm ba vòng, digoxin, uống quá nhiều rượu, thuộc lá hoặc (có thể) sử dụng caffeine.
Cân nhắc cận lâm sàng bổ sung, như siêu âm tim, trắc nghiệm điện tâm đồ gắng sức nếu xảy ra thường xuyên hoặc kèm theo các dấu hiệu/triệu chứng khác của bệnh nôn theo chu kỳ (CVS).
Nhịp nhanh trên thất
Tìm kiếm dấu hiệu tiền kích thích trên điện tâm đồ gợi ý nhịp nhanh do đường dẫn truyền phụ.
Chuyển khoa tim mạch để thăm dò điện sinh lý ± đốt bằng sóng cao tần nếu triệu chứng xảy ra thường xuyên, gây khó chịu hoặc gây mất khả năng hoạt động hoặc nếu có nhiều tác dụng phụ khi điều trị bằng thuốc.
Cuồng nhĩ/rung nhĩ
Tiến hành siêu âm tim để loại trừ bệnh cấu trúc tim như bệnh cơ tim, phì đại thất trái, bệnh van tim.
Tìm kiếm các yếu tố nguyên nhân hoặc làm nặng: đo huyết áp, kiểm tra điện giải và chức năng giáp; hỏi về uống rượu và triệu chứng của đau thắt ngực.
Sử dụng thang điểm CHA2DS2VASc để đánh giá nguy cơ thuyên tắc huyết khối ở bệnh nhân rung nhĩ không có bệnh van tim (tất cả bệnh nhân hẹp 2 lá đều có nguy cơ cao).
Chuyển khoa tim mạch nếu triệu chứng xảy ra thường xuyên, gây lo lắng hoặc mất khả năng hoạt động mặc dù đã điều trị với thuốc đầu tay, như chẹn beta.
Nhịp nhanh thất
Tiến hành siêu âm tim để tìm kiếm bằng chứng của bệnh cấu trúc tim như bệnh cơ tim.
Hỏi về tiền sử nhồi máu cơ tim và triệu chứng/yếu tố nguy cơ của bệnh tim thiếu máu cục bộ.
Đánh giá đoạn QT trên điện tâm đồ với nhịp xoang.
Kiểm tra điện giải - đặc biệt là K+, Mg2+ và Ca2+.
Chuyển tất cả bệnh nhân đến khoa tim mạch để tiến hành cận lâm sàng bổ sung, phân tầng nguy cơ và điều trị.
Nhịp chậm
Tìm kiếm nguyên nhân nền: kiểm tra chức năng giáp và xem lại các thuốc làm giảm tần số tim, như digoxin, chẹn beta, verapamil.
Chuyển bệnh nhân nhịp chậm có triệu chứng hoặc block AV độ 2 (Mobitz 2), block tim hoàn toàn hoặc ngưng xoang > 3 giây đến khoa tim mạch.
Bài viết cùng chuyên mục
Đau ngực từng cơn: những lưu ý lâm sàng trong chẩn đoán
Phải loại trừ thuyên tắc phổi ở bất kỳ bệnh nhân nào có đau kiểu màng phổi cấp tính và không có nguyên nhân nào khác rõ ràng. D-dimer âm tính cùng Wells score < 4 (đủ khả năng loại trừ chẩn đoán này).
Đau bụng: phân tích triệu chứng
Nguyên nhân đau bụng có thể khá đa dạng do bệnh lý ngoài ổ bụng hoặc các nguồn trong ổ bụng, các phát hiện vật lý có thể thay đổi, tình trạng đe dọa đến tính mạng có thể phát triển.
Điều trị đau không dùng thuốc và diễn biến cuối đời
Nhiều bệnh nhân bị bệnh nan y chết trong tình trạng mê sảng, rối loạn ý thức và một sự thay đổi nhận thức mà phát triển trong một thời gian ngắn và được thể hiện bằng cách giải thích sai
Giảm cân ngoài ý muốn: phân tích triệu chứng để chẩn đoán và điều trị
Các vấn đề gây ra giảm cân thông qua một hoặc nhiều cơ chế, lượng calo hấp thụ không đủ, nhu cầu trao đổi chất quá mức hoặc mất chất dinh dưỡng qua nước tiểu hoặc phân.
Ho cấp tính, ho dai dẳng và mãn tính
Ở người lớn khỏe mạnh, chứng ho cấp tính hầu hết là do nhiễm trùng đường hô hấp do virus. Các tính năng khác của nhiễm trùng như sốt, nghẹt mũi, đau họng và giúp xác định chẩn đoán.
Giảm vận động ở người cao tuổi
Tránh, hạn chế và ngưng các thiết bị xâm lấn, đường tĩnh mạch, ống thông tiểu) có thể làm tăng triển vọng bệnh nhân cao tuổi cho chuyển động sớm
Nhiễm trùng đường hô hấp: những đánh giá bổ sung khi thăm khám
Ở những bệnh nhân khỏe mạnh trước đó mà không có dấu hiệu ngực khu trú hoặc bất thường trên XQ phổi, chẩn đoán nhiều khả năng là nhiễm trùng hô hấp không viêm phổi, ví dụ viêm phế quản cấp.
Dấu hiệu bệnh lý: các bước thăm khám và chỉ định xử trí
Nếu như có dấu hiệu suy hô hấp và tràn khí màng phổi áp lực, tiến hành chọc kim hút khí cấp cứu ngay. Nếu như ran rít khắp cả lan tỏa, kiểm tra dấu hiệu của shock phản vệ. Nếu có, xử trí theo mô tả; ngược lại tiến hành thở khí dung giãn phế quản.
Tiếng cọ màng ngoài tim: phân tích triệu chứng
Viêm màng ngoài tim cấp nói chung là một tình trạng lành tính, tự giới hạn và dễ điều trị, viêm có thể tạo ra phản ứng huyết thanh, sợi huyết hoặc mủ.
Đái máu với những điều thiết yếu
Khi không có triệu chứng nào khác, đái máu đại thể có thể có thể chỉ điểm nhiều hơn về khối u, nhưng cũng cần phân biệt với sỏi, các bệnh lý thận tiểu cầu và bệnh thận đa nang.
Ho: phân tích triệu chứng
Ho được kích hoạt thông qua kích hoạt cảm giác của các sợi hướng tâm trong dây thần kinh phế vị, phản xạ nội tạng này có thể được kiểm soát bởi các trung tâm vỏ não cao hơn.
Chóng mặt: phân tích triệu chứng
Chóng mặt thực sự được đặc trưng bởi ảo giác chuyển động, cảm giác cơ thể hoặc môi trường đang chuyển động, bệnh nhân thấy xoay hoặc quay.
Triệu chứng và dấu hiệu bệnh tim
Các triệu chứng khó thở, đau ngực, hồi hộp, choáng và ngất, phù, các dấu hiệu tím, xanh tái, khó thở nhanh, ran hai đáy phổi, mạch đập vùng trước tim.
Đau bụng mạn tính (từng giai đoạn): đặc điểm từng bệnh lý cụ thể
Đau bụng mạn tính là đau tồn tại trong hơn sáu tháng và xảy ra không có bằng chứng của một rối loạn về thể chất cụ thể. Nó cũng không liên quan đến các chức năng của cơ thể (chẳng hạn như kinh nguyệt, nhu động ruột hoặc ăn uống), thuốc hoặc độc tố.
Rối loạn sắc tố da (nốt ruồi, bớt, tàn nhang) lành tính
Tàn nhang và nốt ruồi son là các đốm nâu phẳng. Tàn nhang đầu tiên xuất hiện ở trẻ nhỏ, khi tiếp xúc với tia cực tím, và mờ dần với sự chấm dứt của ánh nắng mặt trời
Đau nhức đầu cấp tính
Bất kể nguyên nhân, đau đầu hiện đang cho là xảy ra như là kết quả của việc phát hành neuropeptides từ dây thần kinh sinh ba là trong các màng mềm và màng cứng mạch máu, dẫn đến viêm thần kinh.
Phân tích triệu chứng ngủ nhiều để chẩn đoán và điều trị
Ngủ nhiều quá mức nên được phân biệt với mệt mỏi tổng quát và mệt mỏi không đặc hiệu, vì bệnh nhân thường sử dụng các thuật ngữ thay thế cho nhau.
Rung giật nhãn cầu: phân tích triệu chứng
Rung giật nhãn cầu có thể liên quan đến những bất thường của hệ thần kinh trung ương hoặc ngoại biên, mặc dù trong nhiều trường hợp, nguyên nhân chính xác có thể không được xác định.
Sốt: đánh giá dấu hiệu triệu chứng và các yếu tố nguy cơ
Mở rộng tầm soát nhiễm trùng ở các bệnh nhân đặc biệt. Các chủng tác nhân hiện hành thường gặp như viêm phổi có thể khác nhau tùy theo dịch tễ từng vùng, do đó hội chấn với chuyên gia truyền nhiễm ngay ở giai đoạn ban đầu.
Suy giáp: phân tích triệu chứng
Nguyên nhân phổ biến nhất của suy giáp nguyên phát là viêm tuyến giáp tự miễn, hoặc bệnh Hashimoto, là kết quả của sự phá hủy dần dần tuyến giáp bởi các tế bào T.
Tràn dịch màng phổi: phân tích triệu chứng
Tràn dịch màng phổi do tăng áp suất thủy tĩnh trong tuần hoàn vi mạch, giảm áp suất keo trong tuần hoàn vi mạch như giảm albumin máu và tăng áp suất âm trong khoang màng phổi.
Thiếu máu: phân tích triệu chứng
Thiếu máu chỉ là một triệu chứng của bệnh chứ không phải bản thân bệnh. Bất cứ khi nào thiếu máu được tìm thấy, nguyên nhân phải được tìm kiếm.
Thiếu máu trong bệnh mạn tính
Tình trạng giảm erythropoietin ít khi là nguyên nhân quan trọng gây sản xuất hồng cầu dưới mức từ trong suy thận, khi đó erythropoietin giảm là một quy luật.
Tím tái: phân tích triệu chứng
Tím tái xuất hiện khi nồng độ hemoglobin khử trong các mô da vượt quá 4 g/dL, tím tái được phân loại là trung ương hoặc ngoại vi dựa trên sự bất thường cơ bản.
Mệt mỏi: các biểu hiện phải phân biệt
Mệt mỏi hay thiếu năng lượng thường là lý do cho việc từ bỏ các hoạt động và đặt câu hỏi cẩn thận có thể cần thiết để phân biệt giữa giới hạn hoạt động thể lực và thiếu hứng thú, quyết tâm.
