- Trang chủ
- Thông tin
- Chẩn đoán và điều trị theo y học hiện đại
- Mệt mỏi: đánh giá bệnh cảnh lâm sàng
Mệt mỏi: đánh giá bệnh cảnh lâm sàng
Một số bệnh nhân, khó để phân biệt giữa mệt mỏi và khó thở; nếu có một bệnh sử rõ ràng hoặc bằng chứng của giảm khả năng gắng sức. Cân nhắc tiếp cận tương tự đối với khó thở gắng sức mạn tính.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Khả năng do thuốc
Kiểm tra lại tất cả thuốc - kê đơn và không kê đơn. Nghĩ đến nguyên nhân do thuốc nếu có mối liên hệ hiện tại giữa thuốc thủ phạm có khả năng với sự khởi phát các triệu chứng. Nếu có thể, dừng hoặc thay thế thuốc đang dùng và kiểm tra lại triệu chứng sau một khoảng thích hợp. Sử dụng quá nhiều rượu hoặc kéo dài có thể gây mệt mỏi. Phơi nhiễm với độc chất môi trường như carbon monoxide, chì, thủy ngân, arsenic, tuy ít gặp hơn nhưng là những nguyên nhân có khả năng hồi phục.
Xác định nguyên nhân rõ ràng lúc thăm khám và thăm dò cận lâm sàng tầm soát
Nếu bất cứ nguyên nhân nào dưới đây được phát hiện, đánh giá lại mệt mỏi sau khi lượng giá thích hợp và điều trị.
Thiếu máu
Tình trạng này có thể gây mệt mỏi nhưng cũng là đặc điểm thường thấy của các bệnh mạn tính. Đánh giá bổ sung cho thiếu máu ở bất kì bệnh nhân nào có giảm Hb.
Suy thận
Tăng urê máu là một nguyên nhân gây mệt mỏi. Nếu tình trạng này mới xuất hiện hoặc làm giảm nặng hơn chức năng thận, xem đánh giá bổ sung của suy thận.
Tăng calci máu
Mệt mỏi và các triệu chứng khác, như đau bụng, nôn, táo bón, đa niệu, lú lẫn và chán ăn có thể xuất hiện khi nồng độ calci máu > 3.0 mmol/L. Tăng calci máu có thể phản ánh tình trạng bệnh nền nghiêm trọng, như di căn xương, ung thư phổi tế bào vảy và đa u tủy xương (multiple myeloma).
Khám vú và tuyến tiền liệt, chụp X quang ngực và kiểm tra nồng độ hormone tuyến cận giáp (PTH):
PTH tăng hoặc bình thường gợi ý cường tuyến cận giáp tiên phát.
Nếu PTH giảm, tiến hành quét đồng vị phóng xạ xương (radioisotope bone scan) và theo dõi u tủy, xem lại các thuốc (đặc biệt là Calci hoặc vitamin D), kiểm tra nồng độ vitamin D huyết thanh, nếu không xác định được nguyên nhân, cân nhắc CT scan ngưc, bụng và chậu để tìm kiếm khối u ác tính bên dưới.
Đái tháo đường
Kiểm tra đường máu đói (FBG) nếu phát hiện đường niệu hoặc một xét nghiệm đường máu bất kì > 7 mmol/L. FBG > 7 mmol/L ở hai thời điểm khác nhau hoặc nghiệm pháp dung nạp đường dương tính xác định chẩn đoán.
Kiểm soát đường huyết kém ở bệnh nhân đái tháo đường có thể gây mệt mỏi, xem lại sổ theo dõi đường huyết và HbA1c để xác định liệu kiểm có soát tương ứng hay không, nếu không, đánh giá lại mệt mỏi sau khi đã điều chỉnh.
Suy giáp
Hỏi về triệu chứng kém chịu lạnh, táo bón và sụt cân, và tìm kiếm biểu hiện khuôn mặt suy giáp, khô da, tóc và móng dễ gãy, phù niêm và bướu. Ở bệnh nhân đã phát hiện suy giáp, cân nhắc thay thế thyroxine và yêu cầu sự chấp thuận. Tăng TSH và giảm T4 xác định suy giáp.
Nhịp tim chậm
Nếu nhịp tim (HR) < 60, tiến hành đo ECG và cân nhắc theo dõi Holter 24 giờ (24h tape). Hội chẩn với chuyên gia tim mạch nếu có bằng chứng block tim hoàn toàn, HR khi nghỉ < 50 lần/phút hoặc HR đáp ứng kém với hoạt động thể lực.
Mang thai
Cân nhắc với mọi phụ nữ ở độ tuổi mang thai, nếu cần thiết, thực hiện test thử thai.
Sốt, đổ mồ hôi trộm hoặc tăng các chỉ điểm viêm
Mệt mỏi thường gặp và thường là triệu chứng chủ yếu ở bệnh nhân với bệnh lý viêm hệ thống hoặc ác tính, như lymphoma, viêm nội tâm mạc, u tủy xương, lao. Nếu bệnh sử có sốt và đổ mồ hôi trộm hoặc tăng tốc độ máu lắng/CRP, đánh giá như đã trình bày đối với sốt và tăng thân nhiệt không rõ nguyên nhân.
Các chỉ điểm khác của bệnh cơ quan
Tìm kiếm các chỉ điểm sau của bệnh thực thể cơ quan trong quá trình đánh giá.
Bất thường tổng phân tích tế bào máu hoặc lam máu
Số lượng tế bào cao hoặc thấp, tế bào bất thường, chẳng hạn nguyên bào, hoặc bất thường hình dạng chẳng hạn tế bào đích có thể gợi ý bệnh ý về huyết học hoặc hệ thống. Tìm kiếm lời khuyên của chuyên gia nếu có bất cứ bất thường ít gặp hoặc không nghĩ đến nào.
Bệnh lý hạch bạch huyết
Hạch bạch huyết lớn có thể xuất hiện trong bệnh ác tính (lymphoma, leukeamia hoặc lắng đọng thứ phát) hoặc trong phản ứng với nhiễm trùng/viêm. Bệnh lý quan trọng nhất cần nghĩ tới là HIV, lao, tăng bạch cầu đa nhân nhiễm khuẩn và bệnh ác tính.
Tìm kiếm các tiêu điểm nhiễm trùng/ viêm nếu có sưng khu trú một nhóm hạch bạch huyết.
Nghi ngờ bệnh máu ác tính khi có sưng hạch bạch huyết không đau.
Cân nhắc sinh thiết hạch bạch huyết nếu nguyên nhân chưa rõ hoặc nghi ngờ bệnh lý ác tính.
Bằng chứng của rối loạn tuần hoàn hô hấp
Tìm kiếm các biểu hiện của suy tim (tăng JVP, phù ngoại vi, sung huyết phổi) hoặc một tiếng thổi mới xuất hiện, nếu có, tiến hành đo ECG và siêu âm tim.
Kiểm tra SpO2 khi nghỉ ngơi ± gắng sức, nếu thấp, thực hiện khí máu động mạch ở trong phòng và tìm kiếm nguyên nhân nền.
Hỏi về hút thuốc lá và cân nhắc x quang ngực/ đo chức năng hô hấp.
Một số bệnh nhân, khó để phân biệt giữa mệt mỏi và khó thở; nếu có một bệnh sử rõ ràng hoặc bằng chứng của giảm khả năng gắng sức. Cân nhắc tiếp cận tương tự đối với khó thở gắng sức mạn tính.
Đặc điểm của bệnh gan mạn tính hoặc xét nghiệm chức năng gan bất thường
Tìm kiếm dấu hiệu của bệnh gan mạn tính. Nếu vàng da, đánh giá nếu kết quả xét nghiệm chức năng gan (LFTs) bất thường, hỏi về uống rượu và ngưng các thuốc độc cho gan. Nếu bất thường vẫn kéo dài, cân nhắc tầm soát bệnh lý gan.
Các đặc điểm của suy tuyến thượng thận
Tìm kiếm sự thay đổi sắc tố ở những vùng da tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, các sẹo gần đây, các vết nhăn da và niêm mạc; bạch biến, hạ huyết áp tư thế và hạ Na+/ tăng K+. Xác định với test kích thích ACTH (Synacthen) ngắn.
Các nguy cơ nhiễm trùng đặc hiệu
Đối với những bệnh nhân có những đặc điểm nguy cơ đặc hiệu, cần thiết phải loại trừ nhiễm trùng, ngay cả khi không có các triệu chứng đặc hiệu.
Cân nhắc HIV nếu bệnh nhân:
Từng có quan hệ tình dục không an toàn, truyền máu, (làm công việc chăm sóc sức khỏe) hoặc sống trong vùng dịch tễ HIV.
Thực hiện các hoạt động tình dục nguy cơ cao.
Sử dụng các thuốc đường tĩnh mạch, trong quá khứ hay hiện tại.
Cân nhắc X quang ngực ± Mantoux test nếu bệnh nhân có:
Từng bị lao hoặc từng ở trong vùng dịch tễ lao.
Tiếp xúc với bệnh nhân bị lao hoạt động trong thời gian gần đây.
Cân nhắc thực hiện xét nghiệm huyết thanh bệnh Lyme nếu bệnh nhân có:
Tiền sử ve cắn gần đây.
Tiền sử ban đỏ di chuyển mạn tính (erythema chronicum Migrans).
Du lịch tới vùng dịch tễ gần đây.
Thảo luận với đơn vị ID nếu bệnh nhân có:
Du lịch ngoài châu Âu và Bắc Mỹ trong thời gian gần đây.
Tiền sử bị động vật cắn gần đây.
Khí sắc kém, mất khoái cảm
Nghi ngờ trầm cảm nếu bệnh nhân mất quan tâm thích thú trong cuộc sống (hỏi về những sở thích, hứng thú và những điều tương tự trong quá khứ), ghi nhận khí sắc kém hoặc cảm xúc âm tính (cảm giác tội lỗi, bi quan, coi nhẹ bản thân) trong phần lớn các trường hợp.
Tìm kiếm biểu hiện cảm xúc cùn mòn và chậm trễ tâm thần vận động và các triệu chứng sinh học, như giảm libido, thức dậy sớm. Cân nhắc tham khảo ý kiến chuyên gia tâm thần hoặc thử dùng thuốc chống trầm cảm.
Khảo sát các yếu tố tâm lý xã hội, và ảnh hưởng lối sống. Cân nhắc béo phì/giảm thể lực, hội chứng mệt mỏi mạn tính
Nếu bệnh nhân có BMI > 30 hoặc ít vận động thể lực, động viên thay đổi lối sống phù hợp và đánh giá lại. Nếu chưa thực sự loại trừ được, cân nhắc bệnh coeliac, tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng, bệnh Lyme. Hội chứng mệt mỏi mạn tính là một chẩn đoán loại trừ với các tiêu chuẩn đặc trưng.
Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng mệt mỏi
Mệt mỏi > 4 tháng vói tất cả các đặc điểm sau
Thời diểm bắt đầu rõ ràng.
Triệu chứng cố định và/hoặc tái phát.
Không thể giải thích bởi các bệnh lý khác.
Giảm mức độ hoạt động rõ ràng.
Đặc trưng bởi khó chịu và/hoặc mệt sau gắng sức (cảm giác tệ hơn sau hoạt động thể lực.
Và một hoặc nhiều đặc điểm sau
Khó ngủ hoặc mất ngủ.
Đau cơ và/hoặc khớp không viêm.
Đau đầu.
Hạch bạch huyết đau nhưng không lớn.
Đau họng hoặc cảm giác mệt mỏi giống cúm.
Rối loạn nhận thức, như khó tập trung suy nghĩ.
Hoạt động thể chất và tinh thần quá mức gây trầm trọng hơn các triệu chứng.
Choáng váng và/hoặc buồn nôn.
Hồi hộp mà không có bệnh tim.
Bài viết cùng chuyên mục
Sốt và tăng thân nhiệt
Sốt là một triệu chứng cung cấp thông tin quan trọng về sự hiện diện của bệnh, đặc biệt là nhiễm trùng và những thay đổi trong tình trạng lâm sàng của bệnh nhân
Co giật: phân tích triệu chứng
Nguyên nhân gây co giật bao gồm rối loạn chức năng hệ thống thần kinh trung ương nguyên phát cũng như rối loạn chuyển hóa hoặc bệnh hệ thống.
Yếu chi trong đột quỵ: đánh giá dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng
Chụp hình ảnh thần kinh để phân biệt đột quỵ xuất huyết não với đột quỵ nhồi máu não và để loại trừ các bệnh lý không đột quỵ, ví dụ tổn thương choán chỗ.
Khí máu động mạch: công cụ tiếp cận bệnh nhân khó thở cấp
Giảm PaCO2 gợi ý tình trạng tăng thông khí. Nếu PaO2 thấp hơn (hoặc chỉ trong giới hạn bình thường), sự tăng thông khí có thể là một đáp ứng thích hợp đối với sự giảm oxy máu.
Táo bón: phân tích triệu chứng
Những thay đổi về kết cấu của phân, chức năng nhu động hoặc đường kính trong của đại tràng, hoặc chức năng tống xuất của trực tràng và sàn chậu có thể dẫn đến táo bón.
Đau thắt ngực: các bước đánh giá thêm nếu nghi ngờ
Mức độ đau thắt ngực không dựa trên mức đau mà dựa trên tần số triệu chứng, giới hạn khả năng gắng sức hoạt động chức năng. Bởi vì những thông tin này sẽ hướng dẫn điều trị và theo dõi đáp ứng, đánh giá triệu chứng chính xác.
Váng đầu và xỉu: các nguyên nhân gây lên rối loạn
Phản xạ giãn mạch và chậm nhịp tim xảy ra khi đáp ứng với một tác nhân như cảm xúc mạnh, các chất kích thích độc hại. Ví dụ, bệnh nhân giãn tĩnh mạch. Có tiền triệu nôn, vã mồ hôi, nhìn mờ/ mất nhìn ngoại biên.
Phát ban toàn thân cấp: đánh giá các triệu chứng lâm sàng
Nhập viện cho bất kỳ các bệnh nhân có tình trạng đỏ da nhiều, đánh giá và cần tiến hành hội chẩn da liễu ngay. Điều trị sau đó dựa vào chấn đoán chính xác và được hướng dẫn bởi đánh giá của chuyên gia da liễu.
Shock: phân tích các đặc điểm triệu chứng lâm sàng
Một số bệnh nhân có thể duy trì huyết áp trong giới hạn bình thường mặc dù có rối loạn chức năng cơ quan, cân nhắc bệnh lý khu trú nếu chỉ có một cơ quan bị rối loạn, chẳng hạn thiểu niệu mà không có bằng chứng rõ ràng của rối loạn huyết động.
Mất ý thức thoáng qua: ngất và co giật
Chẩn đoán mất ý thức thoáng qua thường dựa vào sự tái diễn, và sự phân tầng nguy cơ là điều thiết yếu để xác định những người cần phải nhập viện, và những người được lượng giá an toàn như bệnh nhân ngoại trú.
Kỹ năng khám sức khỏe trên lâm sàng
Mặc dù bác sỹ không sử dụng tất cả các kỹ thuật nhìn sờ gõ nghe cho mọi hệ cơ quan, nên nghĩ đến bốn kỹ năng trước khi chuyển sang lĩnh vực tiếp theo được đánh giá.
Các nguyên nhân thần kinh của ngất
Các bệnh rễ và dây thần kinh khác có hạ huyết áp tư thế gồm hội chứng Guillain Barre, thoái hóa dạng bột tiên phát, bệnh dây thần kinh do porphyrin niệu cấp, và trong ung thư biểu mô.
Định hướng chẩn đoán tình trạng chóng mặt choáng váng
Đánh giá choáng váng nằm ở chỗ xác định bản chất chính xác các triệu chứng của bệnh nhân, thỉnh thoảng, thay đổi ý thức thoáng qua hay khiếm khuyết thần kinh khu trú được mô tả như là choáng váng.
Lách to: phân tích triệu chứng
Nhiều nguyên nhân gây lách to có thể được nhóm thành các loại sau: giải phẫu, huyết học, nhiễm trùng, miễn dịch, ung thư, thâm nhiễm và xung huyết.
Chứng khó nuốt: phân tích triệu chứng
Rối loạn chuyển thức ăn qua cơ vòng thực quản trên gây các triệu chứng ở hầu họng, và rối loạn nhu động hoặc cản trở dòng thức ăn qua thực quản gây khó nuốt ở thực quản.
Phù gai thị: phân tích triệu chứng
Phù gai thị thực sự luôn đi kèm với tăng áp lực nội sọ, chẩn đoán phân biệt đối với phù gai thị gồm chấn thương, khối u nội sọ, hẹp cống não, giả u não (tăng áp lực nội sọ vô căn.
Định hướng chẩn đoán đau ngực từng cơn
Đau ngực từng cơn có thể là cơn đau thắt ngực do tim, cũng có thể do các rối loạn dạ dày thực quản, những rối loạn của cơ xương, cơn hen phế quản hoặc lo lắng.
Mất trí nhớ ở người cao tuổi
Mặc dù không có sự đồng thuận hiện nay vào việc bệnh nhân lớn tuổi nên được kiểm tra bệnh mất trí nhớ, lợi ích của việc phát hiện sớm bao gồm xác định các nguyên nhân.
Định hướng chẩn đoán chảy máu trực tràng
Phần lớn bệnh nhân xuất huyết đường tiêu hóa dưới là lành tính, bệnh nhân xuất huyết trực tràng cấp tính, đánh giá mức độ xuất huyết và tiến hành đầy đủ các bước cấp cứu trước khi chẩn đoán chính xác.
Chứng khát nước: phân tích triệu chứng
Chứng khát nhiều là một triệu chứng phổ biến ở bệnh nhân đái tháo đường (DM) và nổi bật ở bệnh nhân đái tháo nhạt (DI). Chứng khát nhiều có tỷ lệ hiện mắc là 3-39% ở những bệnh nhân tâm thần nội trú mãn tính.
Triệu chứng và dấu hiệu bệnh mắt
Tiết tố mủ thường do nhiễm vi khuẩn ở kết mạc, giác mạc hoặc túi lệ. Viêm kết mạc hoặc viêm giác mạc do vi rút gây tiết tố nước.
Xuất huyết trực tràng: đánh giá các nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa dưới
Phần lớn bệnh nhân xuất huyết do các nguyên nhân lành tính. Ở bệnh nhân xuất huyết trực tràng cấp tính, đánh giá mức độ xuất huyết và tiến hành đầy đủ các bước cấp cứu trước khi chẩn đoán chính xác.
Insulin tiêm dưới da cho bệnh nhân nằm viện: phác đồ và mục tiêu điều trị
Có khoảng ba mươi phần trăm, bệnh nhân nhập viện bị tăng đường huyết, nhiều bệnh nhân trong số này có tiền sử đái tháo đường trước đó
Phù toàn thân: đánh giá các nguyên nhân gây lên bệnh cảnh lâm sàng
Phù thường do nhiều yếu tố gây nên, do đó tìm kiếm những nguyên nhân khác kể cả khi bạn đã xác định được tác nhân có khả năng. Phù cả hai bên thường kèm với sự quá tải dịch toàn thân và ảnh hưởng của trọng lực.
Lú lẫn: mê sảng và mất trí
Chẩn đoán phân biệt mê sảng thường rộng và gặp trong bệnh nhân có não dễ bị tổn thương, bao gồm hầu hết các bệnh lý cơ thể cấp tính, sang chấn tinh thần hay các chấn thương do môi trường bên ngoài gây ra.
