Run cơ: phân tích triệu chứng

2022-12-26 02:27 PM

Run là một trong những rối loạn vận động phổ biến nhất và được đặc trưng bởi một chuyển động dao động và thường nhịp nhàng.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Run là một rối loạn vận động phổ biến, gây ra các chuyển động dao động không tự chủ, thường nhịp nhàng. Khi đánh giá bất kỳ rối loạn vận động nào, bước đầu tiên là xác định loại run, vì điều này sẽ giúp thu hẹp danh sách các nguyên nhân tiềm ẩn. Chẩn đoán sai có thể xảy ra do bỏ qua các đặc điểm tinh tế của các loại run khác nhau. Khoảng 30-50% trường hợp run chấn động được chẩn đoán sai và không được điều trị đúng cách.

Phân loại run

Dựa trên thời điểm xuất hiện và các đặc điểm liên quan, run được phân thành các loại chính sau:

Run khi nghỉ ngơi: Xảy ra khi các cơ liên quan không hoạt động chủ động. Biên độ giảm hoặc biến mất khi co cơ tự nguyện. Run tái phát là một loại run khi nghỉ ngơi, xuất hiện sau khi duỗi tay ra trước và giảm bớt khi co cơ.

Run chấn động/động học/tư thế: Biên độ tăng lên khi các cơ liên quan hoạt động chủ động:

- Run chủ ý: Biên độ tăng theo các chuyển động nhắm mục tiêu. Gặp trong rối loạn chức năng tiểu não.

- Run tư thế hoặc run theo nhiệm vụ cụ thể: Thường do loạn trương lực cơ. Ví dụ: run khi gập chi nhưng không run khi duỗi chi.

Run loạn trương lực cơ: Gặp trong các tư thế bất thường, phì đại cơ, điểm vô hiệu và cải thiện khi kích thích cảm giác.

Run do thuốc hoặc do tác nhân cụ thể: Gặp trong các trường hợp mang thai, bệnh Wilson, rối loạn tuyến giáp, thiếu vitamin, v.v.

Run tâm lý: Hiếm gặp và chỉ được chẩn đoán sau khi loại trừ các nguyên nhân khác.

Chẩn đoán

Tiền sử và khám lâm sàng: Bác sĩ sẽ hỏi về tiền sử bệnh lý, thuốc sử dụng, các yếu tố gia đình, thói quen lối sống và quan sát các đặc điểm run như thời điểm xuất hiện, vị trí, biên độ, tần số và các yếu tố ảnh hưởng.

Xét nghiệm máu: Xác định các nguyên nhân tiềm ẩn như thiếu vitamin, rối loạn tuyến giáp, bệnh Wilson, ngộ độc thuốc hoặc kim loại nặng.

Chẩn đoán hình ảnh: Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) não để phát hiện các bệnh lý như đa xơ cứng, đột quỵ, khối u. Chụp PET hoặc SPECT để phân biệt bệnh Parkinson và run vô căn.

Chuyên gia: Trong một số trường hợp, có thể cần tham khảo ý kiến chuyên gia về rối loạn vận động để chẩn đoán và điều trị chính xác.

Phân biệt run chấn động

Run chấn động khi nghỉ ngơi

Cần phân biệt với hội chứng Parkinson do các nguyên nhân khác (vô căn, do thuốc, do đột quỵ), bệnh Wilson, loạn trương lực cơ, v.v.

Chẩn đoán Parkinson dựa trên bộ ba triệu chứng: run khi nghỉ ngơi, cứng cơ và vận động chậm.

Run chấn động do hành động/động học/tư thế

Hai nguyên nhân phổ biến nhất là run do thuốc và run vô căn.

Run do thuốc: Gây ra hoặc làm trầm trọng thêm bởi các thuốc ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương như thuốc chống trầm cảm, thuốc chống động kinh, thuốc benzodiazepine, thuốc phiện, thuốc gây mê, thuốc chẹn dopamine.

Run vô căn: Run tay di truyền, có thể kèm theo run mặt, cổ, giọng nói và chi dưới, tiến triển từ từ và có thể cải thiện tạm thời với rượu (ở một số người).

Run vô căn có thể bị chẩn đoán sai hoặc điều trị sai, dẫn đến kết quả không mong muốn. Các lựa chọn điều trị bao gồm propranolol, primidone và topiramate. Khi điều trị bằng thuốc thất bại, có thể cân nhắc phẫu thuật kích thích não sâu.

Run chủ ý

Cần loại trừ các nguyên nhân như rối loạn điều hòa, run do thuốc và run vô căn.

Hội chứng run và mất điều hòa liên quan đến X dễ gãy là một nguyên nhân phổ biến gây run và mất điều hòa, đôi khi có biểu hiện giống Parkinson.

Bài viết cùng chuyên mục

Các biểu hiện thường gặp trong bệnh nội tiết

Gen gây béo sản xuất ra leptin, một cytokin do các tế bào mỡ tiết ra nhằm đối phó với sự cất giữ chất mỡ. Khi béo lên, leptin sẽ tác động đến vùng dưới đồi

Viêm miệng: phân tích triệu chứng

Viêm miệng đại diện cho một loại nhiễm trùng niêm mạc miệng, tình trạng viêm và các tổn thương miệng khác, có thể là bệnh ác tính nên các tổn thương dai dẳng.

Thăm khám chẩn đoán bệnh nhân nặng

Nếu hệ thống thần kinh trung ương hoạt động tốt, khả năng đáp ứng các câu hỏi một cách thích hợp, thì các chức năng quan trọng không chắc đã bị rối loạn đến mức cần phải can thiệp ngay lập tức. 

Tập thể dục: phòng ngừa bệnh tật

Tập thể dục - Phòng ngừa bệnh tật! Tập thể dục thường xuyên có nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ, tăng huyết áp, tăng lipid máu, bệnh tiểu đường loại 2, bệnh túi thừa và loãng xương thấp hơn...

Xét nghiệm Covid-19: hướng dẫn thu thập và xử lý bệnh phẩm

Đối với xét nghiệm chẩn đoán ban đầu với các trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 hiện tại, khuyến nghị nên thu thập và xét nghiệm bệnh phẩm đường hô hấp trên.

Mệt mỏi và Hội chứng mệt mỏi mãn tính

Acyclovir, globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch, nystatin, và liều thấp hydrocortisone, fludrocortisone không cải thiện triệu chứng

Quang tuyến vú bất thường: phân tích triệu chứng

Sàng lọc rộng rãi bằng chụp nhũ ảnh và những tiến bộ trong điều trị đã dẫn đến giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú.

Xuất huyết và ban xuất huyết: phân tích triệu chứng

Trình tự thời gian và tiền sử ban xuất huyết cũng như bất kỳ dấu hiệu chảy máu bất thường nào đều quan trọng, bởi vì nguyên nhân của ban xuất huyết có thể là bẩm sinh hoặc mắc phải.

Giảm bạch cầu trung tính: phân tích triệu chứng

Ba quá trình cơ bản dẫn đến giảm bạch cầu trung tính mắc phải bao gồm giảm sản xuất, tăng cường phá hủy ngoại vi và tổng hợp bạch cầu trung tính trong nội mạc mạch máu hoặc mô.

Khó thở mạn tính: thang điểm khó thở và nguyên nhân thường gặp

Khó thở mạn tính được định nghĩa khi tình trạng khó thở kéo dài hơn 2 tuần. Sử dụng thang điểm khó thở MRC (hội đồng nghiên cứu y tế - Medical Research Council) để đánh giá độ nặng của khó thở.

Khám lão khoa: điểm đặc biệt trong đánh giá người già yếu suy kiệt

Khi có thể, xem xét các yếu tố trong tiền sử bệnh nhân có tương tự với những thông tin của người chứng kiến, người chăm sóc, người thân, ghi chú của bệnh nhân hoặc các nhân viên y tế khác không.

Hôn mê: phân tích để chẩn đoán và điều trị

Hôn mê là tình trạng bất tỉnh một khoảng thời gian kéo dài được phân biệt với giấc ngủ bởi không có khả năng đánh thức bệnh nhân.

Sưng khớp: đánh giá các triệu chứng và nguyên nhân

Ở bệnh nhân trẻ tuổi không có tiền sử chấn thương, đã loại trừ được viêm khớp nhiễm khuẩn, sự xuất hiện của bất cứ triệu chứng nào sau đây là dấu hiệu gợi ý cao của viêm khớp phản ứng.

Phân tích triệu chứng mệt mỏi để chẩn đoán và điều trị

Mệt mỏi có thể là do vấn đề y tế, bệnh tâm thần hoặc các yếu tố lối sống, trong một số trường hợp, nguyên nhân không bao giờ được xác định.

Lesovir: thuốc điều trị nhiễm virus viêm gan C mạn tính

Lesovir được chỉ định điều trị cho những bệnh nhân nhiễm virus viêm gan C mạn tính genotype 1, 4, 5 hoặc 6. Liều khuyến cáo của Lesovir là 1 viên, uống 1 lần/ngày cùng hoặc không cùng với thức ăn.

Chẩn đoán bệnh lý: tổng hợp các bước của quá trình

Phương pháp chính xác để đạt được chẩn đoán có thể sẽ có phần khó hiểu cho những người mới bắt đầu thực hành lâm sàng. Những người chẩn đoán giỏi lúc nào cũng sử dụng một vài kỹ năng bổ trợ mà đã thu lượm được qua hàng năm hoặc hàng chục năm kinh nghiệm.

Đau ở giai đoạn cuối đời

Một số bác sỹ tham khảo quản lý đau cho người khác khi họ tin rằng nỗi đau của bệnh nhân không phải là do các căn bệnh mà họ đang điều trị cho các bệnh nhân

Phù chân: đánh giá dựa trên kết quả lâm sàng và cận lâm sàng

Cân nhắc huyết khối tĩnh mạch sâu ở bất kỳ bệnh nhân nào có phù chân cả hai bên, kể cả khi các yếu tố nguy cơ hoặc những triệu chứng/ dấu chứng khác không rõ ràng.

Sa sút trí tuệ: phân tích để chẩn đoán và điều trị

Sa sút trí tuệ là một hội chứng hơn là một căn bệnh, nguyên nhân và sinh lý bệnh có thể khác nhau rất nhiều, hầu hết các loại sa sút trí tuệ phổ biến hơn đều tiến triển.

Lú lẫn: mê sảng và mất trí

Chẩn đoán phân biệt mê sảng thường rộng và gặp trong bệnh nhân có não dễ bị tổn thương, bao gồm hầu hết các bệnh lý cơ thể cấp tính, sang chấn tinh thần hay các chấn thương do môi trường bên ngoài gây ra.

Thiếu máu trong bệnh mạn tính

Tình trạng giảm erythropoietin ít khi là nguyên nhân quan trọng gây sản xuất hồng cầu dưới mức từ trong suy thận, khi đó erythropoietin giảm là một quy luật.

Lập luận chẩn đoán từ nhiều dấu hiệu và triệu chứng không độc lập

Trong thực tế, nhiều dấu hiệu, triệu chứng và kết quả xét nghiệm thường không độc lập, bởi vì sự hiện diện của một phát hiện làm tăng xác suất xuất hiện của một phát hiện khác.

Đau bụng cấp: vàng da đáp ứng viêm và tính chất của đau quặn mật

Giả định nhiễm trùng đường mật ít nhất là lúc đầu, nếu bệnh nhân không khỏe với sốt cao ± rét run hoặc vàng da tắc mật; cho kháng sinh tĩnh mạch, và nếu siêu âm xác nhận giãn đường mật, chuyển phẫu thuật ngay lập tức để giảm áp lực đường mật.

Lú lẫn mê sảng do hạ natri máu: các bước đánh giá lâm sàng

Giảm nhanh Na+ huyết tương có thể dẫn đến phù não đe dọa tính mạng và yêu cầu phải điều chỉnh nhanh chóng. Ngược lại giảm từ từ Na+ cho phép các neuron thần kinh điều chỉnh thích nghi áp lực thẩm thấu.

Tốc độ máu lắng và Protein phản ứng C: phân tích triệu chứng

ESR và CRP hiện là các chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất về phản ứng protein giai đoạn cấp tính được sử dụng để phát hiện các bệnh liên quan đến nhiễm trùng cấp tính và mãn tính, viêm nhiễm, chấn thương, phá hủy mô, nhồi máu và ung thư tiên tiến.