- Trang chủ
- Thông tin
- Chẩn đoán và điều trị theo y học hiện đại
- Khí máu động mạch: công cụ tiếp cận bệnh nhân khó thở cấp
Khí máu động mạch: công cụ tiếp cận bệnh nhân khó thở cấp
Giảm PaCO2 gợi ý tình trạng tăng thông khí. Nếu PaO2 thấp hơn (hoặc chỉ trong giới hạn bình thường), sự tăng thông khí có thể là một đáp ứng thích hợp đối với sự giảm oxy máu.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Đánh giá thông khí
PaCO2 được xác định trực tiếp thông qua thông khí phế nang - thể tích không khí vận chuyển giữa các phế nang và môi trường bên ngoài trong thời gian nào đó.
Do đó tăng PaCO2 (tăng CO2 máu) gợi ý tình trạng suy thông khí - suy hô hấp type 2.
Sự tăng PaCO2 từ từ (suy hô hấp type 2 mạn tính) thường đi kèm với gia tăng HCO3- là chất có nhiệm vụ duy trì cân bằng acid-base chung (H+ trong giới hạn bình thường). Tuy nhiên, sự thích nghi chuyển hóa này có thể xảy ra qua một vài ngày hoặc vài tuần, do đó mà bất kỳ sự tăng lên đột ngột PaCO2 nào ( suy hô hấp type 2 cấp hoặc cấp trên nền mạn) cũng sẽ dẫn đến làm gia tăng H+.
Ở những người suy hô hấp type 2, tỉ lệ tăng PaCO2 và tăng H+ kèm theo gợi ý tốt hơn về mức độ nặng của tình trạng hơn là giá trị tuyệt đối của PaCO2.
Đánh giá sự tưới máu
Giảm PaCO2 gợi ý tình trạng tăng thông khí. Nếu PaO2 thấp hơn (hoặc chỉ trong giới hạn bình thường), sự tăng thông khí có thể là một đáp ứng thích hợp đối với sự giảm oxy máu. Thay vào đó, nếu như HCO3 giảm, điều đó có thể biểu thị sự thích nghi hô hấp với tình trạng nhiễm toan chuyển hóa nguyên phát ví dụ toan cetone đái tháo đường. Giảm PaO2 đi kèm với giá trị PaO2 và HCO3 bình thường (ở khí trời) gợi ý tình trạng tăng thông khí (do tâm lý) nguyên phát nhưng đây là một chẩn đoán loại trừ.
Đánh giá sự tưới máu giảm PaO2 gợi ý sự rối loạn trong oxy hóa máu. PaCO2 bình thường tương ứng chỉ ra rằng điều này gây ra bởi sự mất cân bằng trong thông khí/tưới máu - suy hô hấp type 1. Ngược lại, tăng PaCO2 cho thấy tình trạng gây ra bởi suy thông khí (ít nhất là một phần) - suy hô hấp type 2.
Chỉ định cung cấp O2 làm cho việc phân tích khí máu trở nên phức tạp hơn bởi vì khó đánh giá được rằng PaO2 có thích hợp với FiO2 không và sự oxy hóa máu có bị rối loạn hay không. Một quy tắc ngón tay cái hữu ích là sự khác biệt giữa FiO2 và PaO2 (theo kPa) nên ≤ 10. Tuy nhiên, nếu như sự rối loạn khó thấy được, thực hiện lại khí máu khi thở với khí trời.
Điều quan trọng cần chú ý là phân biệt giữa rối oxy hóa máu bị rối loạn (giảm PaO2) và oxy hóa máu không thích đáng (thiếu hụt PaO2 để cung cấp cho chuyển hóa hiếu khí bình thường). Cân nhắc ở bệnh nhân với PaO2 = 8.5 kPa, rõ ràng sự oxy hóa máu bị rối loạn, gợi ý đến sự hiện diện của bệnh lý phổi quan trọng. Tuy nhiên, mức PaO2 này sẽ thường dẫn đến SaO2 > 90% có thể phân phối O2 đến các mô một cách thích hợp (với Hb và cung lượng tim bình thường).
Đánh giá tình trạng toan-kiềm
Nhiễm acid là bất kỳ quá trình nào mà làm giảm pH máu (tăng H+); nhiễm kiềm là quá trình mà làm tăng pH máu (giảm H+). Tăng PaCO2 gợi ý nhiễm toan hô hấp; giảm PaCO2 gợi ý nhiễm kiềm hô hấp.
Giảm HCO3 gợi ý nhiễm acid chuyển hóa; tăng HCO3 gợi ý nhiễm kiềm chuyển hóa.
Rối loạn toan-kiềm chuyển hóa hoặc hô hấp thường khởi phát sự hiệu chỉnh của cơ thể bởi những hệ thống khác để hạn chế sự thay đổi pH máu (sự thích nghi). Sự thích nghi hô hấp xảy ra trong vòng một vài phút; sự thích nghi chuyển hóa có hiệu quả mất một vài ngày đến vài tuần.
Khi xác định có sự có mặt của bất kỳ rối loạn hô hấp hoặc chuyển hóa nào, hãy nhìn vào chỉ số H+ (hoặc pH) để đánh giá sự ảnh hưởng chung đến tình trạng toan-kiềm. Nếu như quá trình hô hấp và chuyển hóa đối lập nhau, chỉ số H+ giúp phân biệt được tình trạng rối loạn nguyên phát với đáp ứng thích nghi: Sự tăng lên H+ (hoặc ở ngưỡng giới hạn trên giá trị bình thường) gợi ý rằng nhiễm toan là rối loạn nguyên phát và ngược lại.
Nhiễm toan hô hấp nguyên phát (suy thông khí) và kiềm hô hấp nguyên phát (tăng thông khí) được mô tả ở trên.
Nếu như có tình trạng toan chuyển hóa nguyên phát, tính toán khoảng trống anion:
Anion gap = (Na+ + K+ ) - (Cl - + HCO3- ) [Bình thường = 10 -18 mmol/L]
|
Khí máu động mạch trong các dạng khác nhau của suy hô hấp type 2 |
|||
|
|
PaCO2 |
HCO3- |
pH |
|
Cấp |
↑ |
→ |
↓ |
|
Mãn |
↑ |
↑ |
→ |
|
Cấp/mãn |
↑ |
↑ |
↓ |
Cải thiện nhanh với thuốc giãn mạch hoặc lợi tiểu.
Cân nhắc đến phù phổi không do tim ở những bệnh nhân khó thở cấp có thâm nhiễm phổi 2 bên; Các bệnh lý làm dẫn đến ARDS v.d như chấn thường, bỏng, viêm tụy, nhiễm trùng huyết; và không có bằng chứng của suy tim. Nếu nghĩ đến, tiến hành ECG để đánh giá chức năng thất trái và hệ thống van tim.
Bài viết cùng chuyên mục
Giảm cân ngoài ý muốn: phân tích triệu chứng để chẩn đoán và điều trị
Các vấn đề gây ra giảm cân thông qua một hoặc nhiều cơ chế, lượng calo hấp thụ không đủ, nhu cầu trao đổi chất quá mức hoặc mất chất dinh dưỡng qua nước tiểu hoặc phân.
Điện tâm đồ trong viêm màng ngoài tim cấp
Không giống như nhồi máu cơ tim với ST chênh lên, ST chênh lên điển hình kéo dài trong vài ngày. Sóng T cao cùng với thay đổi ST, sau đó đảo ngược.
Giai đoạn cuối đời của bệnh nhân
Trải nghiệm của bệnh nhân vào cuối của cuộc sống bị ảnh hưởng bởi những kỳ vọng của họ về cách họ sẽ chết và ý nghĩa của cái chết.
Đau
Thuốc dạng thuốc phiện được chỉ định cho đau nặng mà các tác nhân kém hiệu lực hơn không thể làm giảm nhẹ đau.
Tiêu chuẩn Duke cải tiến để chẩn đoán viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn
Cấy máu dương tính với các sinh vật gây viêm nội tâm mạc nhiễm trùng điển hình, từ 2 mẫu cấy máu riêng biệt hoặc 2 mẫu cấy dương tính từ các mẫu lấy cách nhau > 12 giờ, hoặc 3 hoặc phần lớn 4 lần cấy máu riêng biệt.
Phù hai chi dưới (chân)
Manh mối cho thấy DVT bao gồm tiền sử ung thư, cố định chi gần đây, hoặc giam ngủ ít nhất là 3 ngày sau phẫu thuật lớn, Tìm kiếm cho cách giải thích khác
Khai thác tiền sử: hướng dẫn khám bệnh
Những thông tin chi tiết về tiền sử sử dụng thuốc thường được cung cấp tốt hơn bởi lưu trữ của bác sĩ gia đình và những ghi chú ca bệnh hơn là chỉ hỏi một cách đơn giản bệnh nhân, đặc biệt lưu tâm đến các kết quả xét nghiệm trước đây.
Tăng bạch cầu ái toan: phân tích triệu chứng
Bạch cầu ái toan phát triển từ tiền chất myeloid trong tủy xương thông qua hoạt động của ít nhất ba cytokine tạo máu. Interleukin-5 (IL-5) đặc hiệu cho quá trình biệt hóa bạch cầu ái toan.
Đau nhiều cơ: phân tích triệu chứng
Một số tình trạng có thể dẫn đến đau đa cơ. Các nguyên nhân phổ biến nhất là đau đa cơ do thấp khớp và các tình trạng viêm. Trong nhiều trường hợp, nguyên nhân chính xác là không rõ.
Chiến lược sử dụng thuốc giảm đau
Nếu cơn đau không thể kiểm soát mà không có tác dụng phụ khó chịu của thuốc, các bác sĩ nên xem xét sử dụng liều thấp hơn của nhiều loại thuốc, được thực hiện thường cho đau thần kinh
Đau bụng mạn tính (từng giai đoạn): đặc điểm từng bệnh lý cụ thể
Đau bụng mạn tính là đau tồn tại trong hơn sáu tháng và xảy ra không có bằng chứng của một rối loạn về thể chất cụ thể. Nó cũng không liên quan đến các chức năng của cơ thể (chẳng hạn như kinh nguyệt, nhu động ruột hoặc ăn uống), thuốc hoặc độc tố.
Chẩn đoán bệnh lý: chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt
Trong phần lớn các trường hợp, việc xây dựng chẩn đoán phân biệt là bước nền tảng để đi đến chẩn đoán xác định. Đây là một chuỗi các chẩn đoán thường được sắp xếp theo thứ tự khả năng tùy theo bệnh cảnh lâm sàng.
Chảy máu trực tràng: đánh giá tình trạng lâm sàng
Chẩn đoán xuất huyết tiêu hóa thấp ở bệnh nhân không có rối loạn huyết động tuy nhiên cần phải nghi ngờ xuất huyết tiêu hóa cao nếu có các đặc điểm của shock giảm thể tích.
Cường giáp/Nhiễm độc giáp: phân tích triệu chứng
Trong cường giáp nặng, lo lắng, khả năng cảm xúc, suy nhược, không dung nạp nhiệt, giảm cân và tăng tiết mồ hôi là phổ biến.
Chóng mặt và choáng váng: các nguyên nhân
Thỉnh thoảng, thay đổi ý thức thoáng qua hay khiếm khuyết thần kinh khu trú được mô tả như là choáng váng. Tuy nhiên hầu hết bệnh nhân với choáng váng có chóng mặt, đau đầu nhẹ, muốn xỉu/ cảm giác mất thăng bằng.
Phết tế bào cổ tử cung bất thường: phân tích triệu chứng
Hầu hết bệnh nhân mắc chứng loạn sản cổ tử cung đều không có triệu chứng. Cũng có thể xuất hiện bằng chứng khi xem bên ngoài bao cao su, tiết dịch âm đạo hoặc thậm chí chảy máu âm đạo.
Rối loạn thăng bằng: các nguyên nhân cảm giác mất thăng bằng
Sự cân bằng đòi hỏi tín hiệu vào từ nhiều bộ phận cảm thụ cảm giác (thị giác, tiền đình, xúc giác, cảm giác bản thể). Giảm chức năng nhi ều hơn một trong các bộ phận này, dù rất nhỏ cũng có thể gây mất thăng bằng.
Đau thắt lưng: phân tích triệu chứng
Nguyên nhân của cơn đau là không đặc hiệu ở phần lớn những người bị đau thắt lưng cấp tính; vấn đề nghiêm trọng là rất hiếm, thường tự giới hạn, nhưng chẩn đoán phải loại trừ các nguyên nhân hiếm gặp.
Suy tim sung huyết: phân tích triệu chứng
Nguyên nhân của suy tim khác nhau tùy thuộc vào chức năng thất trái (phân suất tống máu thất trái giảm hoặc bảo tồn), bên trái hoặc bên phải, hoặc cấp tính hoặc mãn tính.
Sốt phát ban: phân tích triệu chứng
Tiếp cận chẩn đoán phân biệt là phân biệt giữa các thực thể khác nhau gây sốt và bệnh tật bằng các loại phát ban mà chúng thường gây ra.
Chóng mặt choáng váng: phân tích đặc điểm khởi phát
Bệnh nhân choáng váng liên tục qua vài tuần hoặc choáng váng không cải thiện nếu đang tiếp tục điều trị thì không chắc bệnh nhân có chóng mặt thật sự. Do đó cần hướng đến bác sỹ tai mũi họng để đánh giá thêm.
Co giật: phân tích triệu chứng
Nguyên nhân gây co giật bao gồm rối loạn chức năng hệ thống thần kinh trung ương nguyên phát cũng như rối loạn chuyển hóa hoặc bệnh hệ thống.
Tiêm vắc xin Covid-19: các tác dụng phụ có thể xảy ra sau khi tiêm
Nói chuyện với bác sĩ về việc dùng thuốc không kê đơn, chẳng hạn như ibuprofen, acetaminophen, aspirin hoặc thuốc kháng histamine, nếu gặp bất kỳ cơn đau và khó chịu nào sau khi chủng ngừa.
Lú lẫn: mê sảng và mất trí
Chẩn đoán phân biệt mê sảng thường rộng và gặp trong bệnh nhân có não dễ bị tổn thương, bao gồm hầu hết các bệnh lý cơ thể cấp tính, sang chấn tinh thần hay các chấn thương do môi trường bên ngoài gây ra.
Ho ra máu: đánh giá các nguyên nhân thường gặp
Phù phổi có thể gây khạc đàm bọt hồng nhưng khó thở hầu như luôn là triệu chứng chủ yếu. Các nguyên nhân khác bao gồm tăng áp phổi, rối loạn đông máu, hít phải dị vật, chấn thương ngực, u hạt Wegener và hội chứng Goodpasture.
