- Trang chủ
- Thông tin
- Chẩn đoán và điều trị theo y học hiện đại
- Mất ý thức thoáng qua: đánh giá các vấn đề tuần hoàn hô hấp
Mất ý thức thoáng qua: đánh giá các vấn đề tuần hoàn hô hấp
Bằng chứng trên điện tâm đồ của thiếu máu cơ tim cấp gợi ý rối loạn nhịp thứ phát do thiếu máu; ví dụ nhịp nhanh thất, ngất liên quan đến thiếu máu cơ tim. Thảo luận ngay với bác sĩ tim mạch nếu bất kỳ đặc điểm nào ở trên hiện diện.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Phân tầng nguy cơ để xác định bệnh nhân cần xét nghiệm nội trú
Nhập viện tất cả bệnh nhân ngất với đặc điểm tim mạch báo động và nhanh chóng thảo luận với đội ngũ bác sĩ tim mạch. Các công cụ dự báo rủi ro có thể giúp ngăn ngừa việc nhập viện không cần thiết. Cân nhắc xuất viện với xét nghiệm ngoại trú nếu bệnh nhân cho hồi phục hoàn toàn và không có vấn đề y tế nào khác không có yếu tố nguy cơ từ thước đo ngất San Francisco; ngược lại, nhập viện để theo dõi và xét nghiệm các quan sát và can thiệp trước đó.
Ghi nhận điện tâm đồ chẩn đoán
Block AV cấp 2 mobitz type II, block tim hoàn toàn, ngừng tim kéo dài, nhịp nhanh thất hoặc nhịp nhanh kịch phát trên thất (>180/min) trên điện tâm đồ hiện tại hoặc hệ thống theo dõi từ xa (telemetry) thành lập nguyên nhân ngất do rối loạn nhịp tim (ngất tim). Ngất do rối loạn nhịp có khả năng xảy ra cao với nhịp chậm xoang < 40 lần/phút kéo dài, block nhánh trái, phải hoặc máy tạo nhịp ngừng hoạt động.

Hình. Block nhĩ thất mobitz type II

Hình. Block tim hoàn toàn, song P mũi tên
Bằng chứng trên điện tâm đồ của thiếu máu cơ tim cấp gợi ý rối loạn nhịp thứ phát do thiếu máu; ví dụ nhịp nhanh thất, ngất liên quan đến thiếu máu cơ tim.
Thảo luận ngay với bác sĩ tim mạch nếu bất kỳ đặc điểm nào ở trên hiện diện.
Lâm sàng nghi ngờ thuyên tắc phổi hoặc bốc tách động mạch chủ
Những tình trạng này có thể biểu hiện với ngất, mặc dầu rất hiếm khi là triệu chứng chiếm ưu thế. Bạn cần loại trừ cả khi ngất xuất hiện trong bối cảnh đau ngực khởi phát đột ngột mà không thể giải thích. Cần cân nhắc đến PE ở những bệnh nhân ngất với khó thở, hạ oxy máu, bằng chứng huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc các yếu tố nguy cơ chính gây thuyên tắc. Nghĩ đến bóc tách động mạch chủ nếu có tiếng thổi tâm trương mới xuất hiện, mạch mất hoặc trung thất giãn rộng trên X Quang ngực.
Đặc điểm lâm sàng hoặc điện tâm đồ gợi ý bệnh lý tim cấu trúc
Siêu âm tim có thể xác định được nguyên nhân cấu trúc của ngất tim như hẹp động mạch chủ nặng, bệnh lý cơ tim phì đại, u nhầy nhĩ, hoặc các điều kiện dẫn đến rối loạn nhịp như suy tâm thu thất trái nặng.
Đề nghị điện tâm đồ nếu có ngất khi gắng sức, tiền sử gia đình có người chết đột tử không giải thích được, tiếng thổi mới, các đặc điểm lâm sàng của suy tim hoặc tiền sử nhồi máu cơ tim, bệnh cơ tim, bệnh van tim hoặc tim bẩm sinh. Thảo luận bác sĩ tim mạch nếu bất kỳ bất thường trên được xác định.
Các đặc điểm lâm sàng bất thường tương ứng hoăc điện tâm đồ gợi ý ngất do rối loạn nhịp
Nghi ngờ nguyên nhân ngất do rối loạn nhịp trong những trường hợp sau:
Đánh trống ngực khởi phát một cách nhanh chóng trước khi ngất
Ngất trong khi đang gắng sức hoặc trong khi nằm ngữa.
Nhồi máu cơ tim trước đó hoặc bệnh tim cấu trúc đáng kể như bệnh cơ tim, hẹp động mạch chủ.
Bất kỳ đặc điểm bất thường trên điện tâm đồ sau:
Block nhánh trái, block hai hoặc ba phân nhánh.
Nhịp chậm xoang <50 lần/phút
Block AV cấp 2 mobitz 1.
Ngừng xoang >3 giây.
Bằng chứng tiền kích thích.
QT kéo dài (QTc > 440milli giây ở nam giới hoặc >460 milli giây ở nữ giới)
Dạng Brugada: Block nhánh phải với ST chênh lên ở chuyển đạo V1-V3.
Các đặc điểm bệnh lý cơ tim thất phải gây rối loạn nhịp các sóng T(-) ở V1-V3 và các song epsilon.
Sóng Q bệnh lý.
Bất kỳ bất thường điện tâm đồ hoặc tiền sử rối loạn tim mạch trong sự vắng mặt tiền triệu điển hình hoặc các yếu tố khởi phát ngất do phản xạ hoặc ngất tư thế.
Mối tương quan giữa ngất và rối loạn nhịp được ghi nhận là tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán ngất do loạn nhịp.
là một thách thức thường gặp, đặc biệt khi cơn ngất không thường xuyên. Lựa chọn thăm dò và mức độ kéo dài phụ thuộc vào nguy cơ rối loạn nhịp đe dọa tính mạng và tần suất của ngất.
Cho nhập viện ngay những bệnh nhân với đặc điểm tim báo động để theo dõi điện tâm đồ nội trú liên tục. Theo dõi Holter (1-7ngày ) nếu triệu chứng xảy ra thường xuyên. Cân nhắc máy ghi dữ liệu (bên ngoài hoặc cấy ghép) nếu khả năng cao là rối loạn nhịp nhưng các cơn không thường xuyên hoặc khó được chứng minh bởi các phương thức khác.
Ngất sau khi đứng dậy đươc ghi nhận có hạ huyết áp tư thế
Chẩn đoán ngất do hạ huyết áp tư thế nếu như có:
Tiền sử có xây xẩm mặt mày ngay khi đứng dậy, theo sau bởi mất ý thức thoáng qua ngắn.
Hạ huyết áp tư thế được ghi nhận với huyết áp tâm thu tụt giảm >20 mmHg, huyết áp tâm trương >10 mmHg trong vòng 3 phút khi chuyển từ tư thế nằm sang đứng.
Những trường hợp khác, có thể khó phân biệt giữa ngất tư thế và ngất phản xạ, ví dụ như khi các triệu chứng xảy ra sau khi đứng lâu. Tìm kiếm nguyên nhân nền của hạ huyết áp tư thế. Ở những dạng nghiêm trọng nó có phản ánh tình trạng mất dịch cơ thể ví dụ như tình trạng xuất huyết hay mất nước nặng. Các bệnh lý nguyên nhân khác bao gồm hội chứng Parkinson, thần kinh tự động và thuốc (ví dụ thuốc hạ huyết áp, thuốc giãn mạch đặc biệt nitroglycerin ngậm dưới lưỡi) và các thuốc lợi tiểu, đặc biệt khi ở người già.
Yếu tố khởi phát điển hình hoặc tiền triệu
Một yếu tố kích thích rõ ràng ví dụ: Xúc cảm mạnh, tiêm tĩnh mạch, đứng lâu (ngất xỉu phế vị-mạch máu) hoặc ho, hắt xì hoặc sự đi tiểu (ngất tư thế), kèm với tiền triệu điển hình, gợi ý mạnh đến ngất phản xạ, đặc biệt ở bệnh nhân không có bằng chứng lâm sàng hay điện tâm đồ gợi ý bệnh tim cấu trúc hay loạn nhịp tim. Cân nhắc nghiệm pháp bàn nghiêng (tilt-table testing) trong những trường hợp còn nghi ngờ chẩn đoán. Tăng nhạy cảm xoang cảnh là một dạng của ngất phản xạ và thường được chẩn đoán với biện pháp xoa xoang cảnh (CSM). CSM nên tránh thực hiện ở bệnh nhân có tiền sử tai biến mạch máu não/cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc có tiếng thổi động mạch cảnh và cần theo dõi điện tâm đồ liên tục; được chẩn đoán nếu ngất được sinh ra khi có vô tâm thu kéo dài hơn 3s.

Hình. Block ba nhánh

Hình. Block nhĩ thất Mobitz type I

Hình. Hội chứng Brugada
Thước đo ngất San Francisco
Tiền sử suy tim sung huyết.
Thể tích hồng cầu khối/Hct <30%.
Bất thường điện tâm đồ *.
Khó thở.
Huyết áp tâm thu < 90 mmHg lúc xảy ra bệnh cảnh.
Điều trị như nguy cơ cao nếu có bất kỳ đặc điểm trên.
Độ nhạy 75–98% nhưng độ đặc hiệu chỉ ~50% cho sự kiện bất lợi trong 30 ngày tiếp theo.
*Bất kỳ nhịp nào khác với nhịp xoang hoặc bất kì sự thay đổi nào so với điện tâm đồ trước đây.
Bài viết cùng chuyên mục
Chóng mặt choáng váng: phân tích đặc điểm khởi phát
Bệnh nhân choáng váng liên tục qua vài tuần hoặc choáng váng không cải thiện nếu đang tiếp tục điều trị thì không chắc bệnh nhân có chóng mặt thật sự. Do đó cần hướng đến bác sỹ tai mũi họng để đánh giá thêm.
Quang tuyến vú bất thường: phân tích triệu chứng
Sàng lọc rộng rãi bằng chụp nhũ ảnh và những tiến bộ trong điều trị đã dẫn đến giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú.
Chứng rậm lông: phân tích triệu chứng
Rậm lông có thể báo hiệu một rối loạn bệnh lý và cũng có tác động tiêu cực đến lòng tự trọng của bệnh nhân, vì vậy việc nhận biết nguyên nhân và đánh giá tình trạng này là rất quan trọng.
Ngã và rối loạn dáng đi ở người cao tuổi
Những thay đổi này, người lớn tuổi dễ mắc ngã khi bị thách thức bởi một sự vi phạm bổ sung cho bất kỳ hệ thống này
Khối u bìu: phân tích triệu chứng
Trong quá trình đánh giá bất kỳ khối u bìu nào, mục tiêu chính là xác định xem có chỉ định chuyển tuyến ngay lập tức hay không.
Ho ra máu: đánh giá các triệu chứng lâm sàng
Lượng máu chảy khó xác định chính xác trên lâm sàng nhưng có thể ước lượng thể tích và tỷ lệ máu mất bằng cách quan sát trực tiếp lượng máu ho ra với một vật chứa có chia độ. Nguy cơ chủ yếu là ngạt do ngập lụt phế nang hoặc tắc nghẽn đường thở.
Tiếng thổi tâm trương: phân tích triệu chứng khi nghe tim
Tiếng thổi tâm trương thường do hẹp van hai lá hoặc van ba lá hoặc hở van động mạch chủ hoặc van động mạch phổi, tiếng thổi tâm trương thường không được coi là bệnh lý.
Giảm cân ngoài ý muốn: phân tích triệu chứng để chẩn đoán và điều trị
Các vấn đề gây ra giảm cân thông qua một hoặc nhiều cơ chế, lượng calo hấp thụ không đủ, nhu cầu trao đổi chất quá mức hoặc mất chất dinh dưỡng qua nước tiểu hoặc phân.
Đau bụng cấp: có thai và các bệnh có vị trí điểm đau đặc trưng
Yêu cầu thăm khám phụ khoa để đánh giá biến chứng liên quan đến có thai ở bất kì phụ nữa nào mà đã biết có thai trong tử cung và đau bụng dưới cấp, cần xem xét chẩn đoán khác bao gồm viêm ruột thừa cấp.
Định hướng chẩn đoán mệt mỏi
Mệt mỏi là tình trạng kiệt quệ về thể chất và hoặc tinh thần, điều này rất phổ biến và không đặc hiệu, do vậy mà việc xác định tình trạng bệnh nền gặp nhiều khó khăn.
Đi tiểu ra máu: các nguyên nhân thường gặp
Tiểu máu đại thể gợi ý nghĩ nhiều đến bệnh lý đường tiểu và luôn đòi hỏi phải đánh giá thêm. Tiểu máu vi thể thường tình cờ phát hiện ở bệnh nhân không có triệu chứng và thách thức nằm ở việc phân biệt các nguyên nhân lành tính với các bệnh lý nghiêm trọng.
Chóng mặt và choáng váng: các nguyên nhân
Thỉnh thoảng, thay đổi ý thức thoáng qua hay khiếm khuyết thần kinh khu trú được mô tả như là choáng váng. Tuy nhiên hầu hết bệnh nhân với choáng váng có chóng mặt, đau đầu nhẹ, muốn xỉu/ cảm giác mất thăng bằng.
Nguy cơ té ngã: cách thực hiện đánh giá dáng đi
Sự an toàn và vững chắc chung; bất thường dáng đi một bên (đột quỵ, tổn thương thần kinh ngoại biên, bệnh khớp, đau); bước đi ngắn, lê chân (bệnh Parkinson, bệnh lý mạch máu não lan tỏa); dáng đi bước cao.
Insulin tiêm dưới da cho bệnh nhân nằm viện: phác đồ và mục tiêu điều trị
Có khoảng ba mươi phần trăm, bệnh nhân nhập viện bị tăng đường huyết, nhiều bệnh nhân trong số này có tiền sử đái tháo đường trước đó
Xuất huyết tiêu hóa trên: phân tích triệu chứng
Chảy máu từ đường tiêu hóa trên thường xảy ra khi sự gián đoạn xảy ra giữa hàng rào bảo vệ mạch máu và môi trường khắc nghiệt của đường tiêu hóa.
Khám lão khoa: tiếp cận bệnh nhân già yếu suy kiệt
Thách thức trong việc đánh giá lão khoa cấp tính thường phức tạp do các quan niệm sai lầm mà quá trình luôn có sự khó chịu và mệt mỏi trong đó.
Đau bụng cấp: triệu chứng kèm các dấu hiệu cảnh báo
Xét nghiệm bổ sung thường được yêu cầu ở bệnh nhân > 45 tuổi có triệu chứng mới khởi phát, sụt cân, suy sụp hoặc xét nghiệm sàng lọc bất thường.
Phân tích tình trạng té ngã để chẩn đoán và điều trị
Hầu hết xét nghiệm máu đều có giá trị thấp và nên được thực hiện để xác nhận nghi ngờ, điện tâm đồ rất hữu ích ở người cao tuổi để loại trừ bệnh tim.
Chứng khát nước: phân tích triệu chứng
Chứng khát nhiều là một triệu chứng phổ biến ở bệnh nhân đái tháo đường (DM) và nổi bật ở bệnh nhân đái tháo nhạt (DI). Chứng khát nhiều có tỷ lệ hiện mắc là 3-39% ở những bệnh nhân tâm thần nội trú mãn tính.
Giao hợp đau: phân tích triệu chứng
Giao hợp đau, thuật ngữ này thường được sử dụng liên quan đến rối loạn chức năng tình dục nữ, một tỷ lệ nhỏ nam giới cũng bị chứng đau khi giao hợp.
Đánh trống ngực: phân tích triệu chứng
Đánh trống ngực là một nhận thức bất thường khó chịu về nhịp tim. Chúng thường được mô tả là tim đập thình thịch.
Rối loạn lưỡng cực: phân tích để chẩn đoán và điều trị
Nguyên nhân chính xác của rối loạn lưỡng cực vẫn chưa được biết, nhưng các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội đều đóng một vai trò quan trọng.
Định hướng chẩn đoán khó nuốt
Bệnh nhân với khó nuốt cần loại trừ các bệnh lý nghiêm trọng, trừ khi tiền sử chỉ ra vấn đề miệng hầu, kiểm tra thực quản để loại trừ tắc nghẽn cơ học.
Tràn dịch màng phổi: phân tích triệu chứng
Tràn dịch màng phổi do tăng áp suất thủy tĩnh trong tuần hoàn vi mạch, giảm áp suất keo trong tuần hoàn vi mạch như giảm albumin máu và tăng áp suất âm trong khoang màng phổi.
Rối loạn thăng bằng: các nguyên nhân cảm giác mất thăng bằng
Sự cân bằng đòi hỏi tín hiệu vào từ nhiều bộ phận cảm thụ cảm giác (thị giác, tiền đình, xúc giác, cảm giác bản thể). Giảm chức năng nhi ều hơn một trong các bộ phận này, dù rất nhỏ cũng có thể gây mất thăng bằng.
