Khối u vú: đặc điểm khi thăm khám lâm sàng

2020-12-19 10:09 PM

Đối với bất kỳ bệnh nhân sau mãn kinh có tổn thương dạng nốt khu trú cần chuyển bệnh nhân làm bộ 3 đánh giá ngay. Đối với bệnh nhân tiền mãn kinh, thăm khám lại sau kỳ kinh tiếp theo và chuyển làm 3 đánh giá nếu vẫn còn những tổn thương dạng nốt khu trú đó.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Sờ thấy khối riêng biệt

Nếu không thể định vị khối u, yêu cầu bệnh nhân thử tìm nó và thăm khám ở những tư thế khác. ví dụ: nằm ngửa và đứng thẳng.

Trong trường hợp không thấy khối riêng biệt, đánh giá cấn thận dạng nốt của vú.

Đối với bất kỳ bệnh nhân sau mãn kinh có tổn thương dạng nốt khu trú cần chuyển bệnh nhân làm bộ 3 đánh giá ngay (khấn cấp). Đối với bệnh nhân tiền mãn kinh, thăm khám lại sau kỳ kinh tiếp theo và chuyển làm 3 đánh giá nếu vẫn còn những tổn thương dạng nốt khu trú đó.

Nếu không phát hiện được khối hay nốt bất kì nào, trấn an cho bệnh nhân nhưng cần lên lịch xem xét lại ở lần tái khám tiếp theo.

Bằng chứng của abscess

Nghĩ đến nhiễm trùng vú nếu có một khối sưng đau cấp tính trên nền đỏ da, sốt hoặc tình trạng đáp ứng viêm toàn thân; bắt đầu điều trị kháng sinh và chuyển cho đội phẫu thuật/vú như là 1 tình huống cấp cứu. Cân nhắc chuyển để loại trừ áp xe ở bất kỳ phụ nữ đang cho con bú mà có viêm và cứng rõ ràng.

Đặc điểm/ yếu tố nguy cơ của ung thư vú

Chuyển bất kỳ bệnh nhân nào với khối u vú sờ thấy được cho chuyên khoa để tiến hành bộ 3 đánh giá để loại trừ ung thư vú.

Cần được xem xét lại ngay nếu:

Khối u lớn nhanh hoặc có các đặc điểm của ung thư vú.

Bệnh nhân > 30 tuổi có khối u riêng biệt tồn tại suốt chu kỳ kinh nguyệt.

Bệnh nhân < 30 tuổi có một yếu tố nguy cơ chính, v.d. tiền sử cá nhân hoặc gia đình bị ung thư vú.

Các vị trí quan sát vú

Hình. Các vị trí quan sát vú. A. 2 tay chống vào hông. B. 2 tay đưa cao trên đầu. C. Ưỡn người tới trước.

Khám lâm sàng vú

Có được sự đồng ý và lời đề nghị của người giám hộ, đấm bảo sự riêng tư và một căn phòng khám ấm.

Hỏi bệnh nhân có chú ý thấy bất kỳ khối u nào ở vú không và yêu cầu cô ấy chỉ ra vị trí của nó.

Khi bệnh nhân ngồi ở tư thế thoải mái, tay thả lỏng trên đùi, kiểm tra tính không đối xứng, sưng tại chỗ, các thay đổi da vd: dấu gợn sóng, đỏ da, và tụt núm vú, hoặc tiết dịch bất thường.

Kiểm tra lại với tay bệnh nhân chống vào hông (làm co cơ ngực), giơ tay cao trên đầu (duỗi cơ ngực) và ưỡn người ra trước.

Với bệnh nhân nằm ngửa, và 2 tay ở bên dưới đầu, sờ nắn mỗi bên vú: sử dụng mặt lòng các ngón tay trong tư thế khép, ấn mô vú vào thành ngực Sờ nắn theo chiều kim đồng hồ để không bỏ sót vùng mô vú nào, bao gồm cả vùng dưới núm vú.

Ghi lại kích thước, vị trí, sự dính với cấu trúc khác, tính di động, bề mặt, bờ, tính đồng nhất của bất kỳ khối u nào, và tìm kiếm các dấu hiệu viêm kèm theo (đau, nóng, đỏ).

Sờ tìm hạch nách. Yêu cầu bệnh nhân ngồi đối diện với bạn và đỡ toàn bộ trọng lượng cánh tay của cô ấy lên ở cổ tay bằng tay đối diện của bạn. Sau khi đảm bảo có bất kỳ sự khó chịu nào trên bệnh nhân không, dùng tay còn lại sờ nắn quanh vùng nách bằng cách ấn chúng vào thành ngực. Thực hiện tương tự với bên còn lại.

Bài viết cùng chuyên mục

Thiểu niệu và vô niệu: phân tích triệu chứng

Thiểu niệu cấp tính nên được nhập viện do nguy cơ phát triển các biến chứng có thể gây tử vong như tăng kali máu, quá tải dịch, nhiễm toan chuyển hóa và viêm màng ngoài tim.

Viêm da dị ứng (Eczema)

Sần sùi, mảng màu đỏ thường là không dày và phân định ranh giới riêng biệt của bệnh vẩy nến ảnh hưởng đến khuôn mặt, cổ và thân trên

Xuất huyết và ban xuất huyết: phân tích triệu chứng

Trình tự thời gian và tiền sử ban xuất huyết cũng như bất kỳ dấu hiệu chảy máu bất thường nào đều quan trọng, bởi vì nguyên nhân của ban xuất huyết có thể là bẩm sinh hoặc mắc phải.

Đau đầu: chọc dịch não tủy và phân tích dịch não tủy đánh giá

Viêm màng nào do vi khuẩn sớm có thể nhầm lẫn với viêm màng não do virus bởi tăng bạch cầu lympho là chủ yếu trong dịch não tủy. Nếu có bất kỳ khả năng nào của viêm màng não do vi khuẩn, điều trị kháng sinh trong lúc đợi xét nghiệm bổ sung.

Đau màng phổi: phân tích triệu chứng

Màng phổi thành là nguồn gốc chính của cơn đau do hô hấp, bề mặt trên của cơ hoành và ranh giới bên của trung thất, nó được chi phối bởi các dây thần kinh liên sườn.

Nôn ra máu: đánh giá tình trạng lâm sàng

Mọi bệnh nhân nôn ra máu có các dấu hiệu của shock hoặc có bằng chứng bệnh nhân vẫn đang chảy máu, nên tiến hành nội soi cấp cứu sau khi đã hồi sức đầy đủ cho bệnh nhân.

Đau đầu: đánh giá bệnh cảnh lâm sàng

Loại trừ xuất huyết dưới nhện ở bất kỳ bệnh nhân nào có đau đầu dữ dội lần đầu tiên hay là đau đầu nặng nhất họ từng trải qua mà đạt đỉnh trong 5 phút từ lúc khới phát và dai dẳng hơn 1 giờ.

Định hướng chẩn đoán khó thở

Khi đánh giá bệnh nhân bị khó thở, nhớ rằng mức độ nặng của chúng có tính chủ quan cao, có thể không cảm thấy có chút khó thở nào mặc dù có sự rối loạn trao đổi khí nặng.

Xuất huyết trực tràng: đánh giá các nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa dưới

Phần lớn bệnh nhân xuất huyết do các nguyên nhân lành tính. Ở bệnh nhân xuất huyết trực tràng cấp tính, đánh giá mức độ xuất huyết và tiến hành đầy đủ các bước cấp cứu trước khi chẩn đoán chính xác.

Khối u bìu: phân tích triệu chứng

Trong quá trình đánh giá bất kỳ khối u bìu nào, mục tiêu chính là xác định xem có chỉ định chuyển tuyến ngay lập tức hay không.

Tim to: phân tích triệu chứng

Tim to là do quá tải áp lực và phì đại cơ của một hoặc nhiều buồng tim, quá tải thể tích với sự giãn nở của các buồng tim hoặc bệnh cơ tim.

Phì đại tuyến giáp (bướu cổ): phân tích triệu chứng

Bất kỳ cản trở quá trình tổng hợp hoặc giải phóng hormone tuyến giáp đều có thể gây ra bướu cổ. Cho đến nay, yếu tố rủi ro quan trọng nhất đối với sự phát triển của bệnh bướu cổ là thiếu i-ốt.

Mất thị lực: phân tích triệu chứng

Mất thị lực có thể đột ngột hoặc dần dần, một mắt hoặc hai mắt, một phần hoặc toàn bộ và có thể là một triệu chứng đơn độc hoặc một phần của hội chứng phức tạp.

Thăm khám bệnh nhân suy dinh dưỡng

Trên cơ sở bệnh sử và kết quả khám sức khỏe, bệnh nhân được xếp theo 3 loại là dinh dưỡng tốt, suy dinh dưỡng trung bình hoặc nghi ngờ và suy dinh dưỡng nặng.

Insulin tiêm dưới da cho bệnh nhân nằm viện: phác đồ và mục tiêu điều trị

Có khoảng ba mươi phần trăm, bệnh nhân nhập viện bị tăng đường huyết, nhiều bệnh nhân trong số này có tiền sử đái tháo đường trước đó

Tiểu đêm: phân tích triệu chứng

. Sinh lý bệnh cơ bản có thể phụ thuộc vào một số vấn đề hoàn toàn là cơ học và đối với những vấn đề khác có thể liên quan đến các cơ chế nội tiết tố thần kinh phức tạp.

Hút thuốc lá và bệnh tật

Những người hút thuốc chết sớm hơn 5, 8 năm so với người không bao giờ hút thuốc, Họ có hai lần nguy cơ bệnh tim gây tử vong, 10 lần nguy cơ ung thư phổi

Tiết dịch âm đạo (khí hư): phân tích triệu chứng

Tiết dịch âm đạo có thể là sinh lý hoặc bệnh lý. Khi giải phẫu bệnh, người ta báo cáo rằng 90% phụ nữ bị ảnh hưởng mắc bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn, bệnh nấm candida âm hộ-âm đạo hoặc bệnh trichomonas.

Viêm họng: phân tích triệu chứng

Viêm họng bao gồm nhiều loại nguyên nhân, nhưng phổ biến nhất ở những người có khả năng miễn dịch bình thường là viêm họng nhiễm trùng cấp tính, chủ yếu là do virus.

Thiếu máu trong bệnh mạn tính

Tình trạng giảm erythropoietin ít khi là nguyên nhân quan trọng gây sản xuất hồng cầu dưới mức từ trong suy thận, khi đó erythropoietin giảm là một quy luật.

Khó thở mãn tính: đánh giá triệu chứng của các bệnh lý thực thể

Tìm kiếm bằng chứng khách quan của phục hồi hoặc biến đổi đường thở để khẳng định chấn đoán: Thực hiện bởi phế dung kế sau đó yêu cầu bệnh nhân ghi lại nhật ký lưu lượng thở đỉnh. Xem xét đánh giá chuyên khoa nếu như chẩn đoán không chắc chắn.

Khó thở mạn tính: thang điểm khó thở và nguyên nhân thường gặp

Khó thở mạn tính được định nghĩa khi tình trạng khó thở kéo dài hơn 2 tuần. Sử dụng thang điểm khó thở MRC (hội đồng nghiên cứu y tế - Medical Research Council) để đánh giá độ nặng của khó thở.

Cương cứng kéo dài: phân tích triệu chứng

Hai loại cương cứng kéo dài, dòng chảy thấp hoặc tắc tĩnh mạch và hoặc dòng chảy cao động mạch, đã được mô tả dựa trên vấn đề cơ bản.

Thăm khám chẩn đoán bệnh nhân nặng

Nếu hệ thống thần kinh trung ương hoạt động tốt, khả năng đáp ứng các câu hỏi một cách thích hợp, thì các chức năng quan trọng không chắc đã bị rối loạn đến mức cần phải can thiệp ngay lập tức. 

Khó nuốt thực quản (cấu trúc): các nguyên nhân thường gặp

Cả bệnh cấu trúc và rối loạn vận động đều có thể gây khó nuốt. Nguyên nhân cấu trúc thường gây khó nuốt với thức ăn rắn; rối loạn vận động có thể gây khó nuốt với cả thức ăn rắn và chất lỏng.