Đi tiểu ra máu: đánh giá các triệu chứng lâm sàng

2020-12-27 09:27 AM

Tiểu máu vi thể đơn độc thường phổ biến và do bệnh lý lành tính như hội chứng màng đáy cầu thận mỏng. Cần đảm bảo rằng các nguyên nhân ở trên đã được loại trừ; làm cho bệnh nhân yên tâm rằng xét nghiệm thêm là không cần thiết.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Tiểu máu đại thể, có triệu chứng hoặc kéo dài

Kiểm tra các nguyên nhân khác gây đổi màu nước tiểu. Test que thử nước tiểu (ít nhất 1+) được sử dụng để phát hiện tiểu máu vi thể; soi nước tiểu thường quy không được khuyến cáo nhưng có thể được chỉ định ở những trường hợp không rõ ràng như nghi ngờ myoglobin niệu. Nếu test que thử dương tính, hỏi cụ thể về các đợt tiểu máu đại thể.

Đánh giá thêm theo mô tả dưới đây nếu có:

Tiểu máu đại thể.

Đau thắt lưng hoặc triệu chứng đường tiểu dưới.

> 2/3 test dương tính ở bệnh nhân không có triệu chứng.

Cơn đau quặn thận

Sự kết hợp của tiểu máu và cơn đau quặn thận gợi ý tắc nghẽn niệu quản, thường do sỏi hoặc ít phổ biến hơn là do cục máu đông hoặc mảng tróc của nhú thận. Xác định sự hiện diện và vị trí của sỏi bằng chụp niệu đồ tĩnh mạch (IVU) hoặc CT, được ưa dùng hơn. Theo dõi cẩn thận sự giảm lưu lượng nước tiểu hoặc bằng chứng của nhiễm trùng và tiến hành tìm hiểu thêm để xác định nguyên nhân nền, như thành phần hóa học của sỏi; calci/ phosphate/ acid uric trong huyết thanh.

Bằng chứng của nhiễm trùng đường tiết niệu, hành kinh hoặc chấn thương gần đây/ gắng sức

Chuyển đến khoa tiết niệu nếu tiểu máu đại thể sau phẫu thuật hoặc các thủ thuật xâm nhập đường tiết niệu như sinh thiết thận, soi niệu quản, cắt tiền liệt tuyến qua niệu đạo hoặc chấn thương bụng/chậu/cơ quan sinh dục.

Nếu bạch cầu và nitrite niệu (-) trên que thử thì sẽ có giá trị loại trừ nhiễm trùng đường tiết niệu trong phần lớn các trường hợp. Nếu test que thử (+) hoặc lâm sàng nghi ngờ nhiều, gửi nước tiểu giữa dòng; điều trị nhiễm trùng nếu xác định có nhiễm trùng, sau đó kiểm tra lại đái máu vi thể.

Lặp lại test que thử một ngày sau đó nếu test đã được thực hiện trong thời kỳ hành kinh, sau gắng sức hoặc sau đặt thông tiểu.

Cân nhắc viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn nếu có sốt, xuất huyết dưới móng (splinter haemorrhages), tổn thương đặc trưng hoặc tiếng thổi mới xuất hiện.

Đừng cho rằng tiểu máu là do nguyên nhân điều trị chống đông hoặc chống ngưng tập tiểu cầu nếu chưa xét nghiệm, tìm hiểu thêm.

Tiểu máu đại thể, triệu chứng đường tiểu dưới, tuổi > 40 hoặc có các yếu tố nguy cơ cao

Khi không có cơn đau quặn thận và theo như điều trị/loại trừ các nguyên nhân tiểu máu thoáng qua, phải loại trừ ung thư nếu có biểu hiện bất cứ đặc điểm nào sau đây:

Tiểu máu đại thể.

Triệu chứng đường tiểu dưới.

Tuổi > 40.

Các đặc điểm nguy cơ cao.

Chuyển đến khoa tiết niệu để tiến hành cận lâm sàng bổ sung như CT niệu (hoặc siêu âm thận ± IVU) và soi bàng quang.

Giảm mức lọc cầu thận, protein niệu, tăng huyết áp hoặc lâm sàng nghi ngờ bệnh thận

Chuyển đến chuyên gia thận học để đánh giá thêm ± sinh thiết thận nếu có bất kì đặc điểm nào sau đây:

Protein niệu, tỷ lệ albumin/ creatinine > 30.

Giảm chức năng thận (GFR < 60 mL/ min).

Tăng huyết áp ở bệnh nhân < 40 tuổi.

Bệnh mô liên kết, ví dụ như lupud ban đỏ hệ thống.

Tiền sử gia đình về Hội chứng Alport/ bệnh thận đa nang ở người trưởng thành.

Các đợt tiểu máu đại thể xuất hiện cùng với nhiễm trùng đường niệu cấp tính.

Tiểu máu không rõ nguyên nhân. Theo dõi thường quy.

Tiểu máu vi thể đơn độc thường phổ biến và do bệnh lý lành tính như hội chứng màng đáy cầu thận mỏng. Cần đảm bảo rằng các nguyên nhân ở trên đã được loại trừ; làm cho bệnh nhân yên tâm rằng xét nghiệm thêm là không cần thiết, nhưng cần theo dõi các đặc điểm làm bệnh nhân lo lắng như các triệu chứng đường tiểu mới xuất hiện, tiểu máu đại thể, protein niệu hoặc suy chức năng thận.

Bài viết cùng chuyên mục

Sưng khớp: đánh giá bệnh cảnh lâm sàng

Nếu nguyên nhân tại khớp thường gây sưng, nóng, đau nhiều hơn và giới hạn vận động khớp cả các động tác chủ động và thụ động. Viêm bao hoạt dịch là nguyên nhân thường gặp nhất gây ra bởi các hoạt động lặp đi lặp lại.

Rối loạn thăng bằng: các nguyên nhân cảm giác mất thăng bằng

Sự cân bằng đòi hỏi tín hiệu vào từ nhiều bộ phận cảm thụ cảm giác (thị giác, tiền đình, xúc giác, cảm giác bản thể). Giảm chức năng nhi ều hơn một trong các bộ phận này, dù rất nhỏ cũng có thể gây mất thăng bằng.

Phì đại tuyến vú ở nam giới: phân tích triệu chứng

Vú nam bao gồm một lượng tối thiểu các mô mỡ và tuyến. Tỷ lệ estrogen-testosterone bị thay đổi ở nam giới có thể dẫn đến chứng vú to ở nam giới, hoặc sự tăng sinh của mô tuyến vú.

Phù chân: đánh giá suy thận và chức năng thận

Xác định và điều trị những nguyên nhân, theo dõi chức năng thận và thảo luận với đội chuyên khoa thận nếu như có bất kỳ sự tụt giảm mức lọc cầu thận thêm nữa.

Sốt không xác định được nguồn gốc (FUO)

Các thuật toán tiêu chuẩn cho sốt không xác định được nguồn gốc rất khó để suy luận cho bệnh nhân, Tuy nhiên, kết quả của lịch sử, khám lâm sàng, xét nghiệm thường quy

Suy giáp: phân tích triệu chứng

Nguyên nhân phổ biến nhất của suy giáp nguyên phát là viêm tuyến giáp tự miễn, hoặc bệnh Hashimoto, là kết quả của sự phá hủy dần dần tuyến giáp bởi các tế bào T.

Tăng huyết áp: phân tích triệu chứng

Không xác định được nguyên nhân được cho là mắc tăng huyết áp nguyên phát, có một cơ quan hoặc khiếm khuyết gen cho là tăng huyết áp thứ phát.

Mất ý thức thoáng qua: phân tích triệu chứng lâm sàng

Xem như là mất ý thức thoáng qua nếu nhân chứng xác định có một khoảng thời gian không có đáp ứng, bệnh nhân mô tả thức dậy hoặc tỉnh lại trên mặt đất, đặc biệt không có ký ức về việc té ngã gì trước đó, hoặc có tổn thương mặt.

Phân tích tình trạng té ngã để chẩn đoán và điều trị

Hầu hết xét nghiệm máu đều có giá trị thấp và nên được thực hiện để xác nhận nghi ngờ, điện tâm đồ rất hữu ích ở người cao tuổi để loại trừ bệnh tim.

Mệt mỏi: đánh giá bổ sung thiếu máu

Đánh giá lại các triệu chứng và công thức máu toàn bộ sau khi bổ sung sắt và điều trị nguyên nhân nền. Chuyển bệnh nhân với giảm thể tích trung bình của hồng cầu và dự trữ sắt bình thường đến chuyên gia huyết học để đánh giá cho chẩn đoán thay thế.

Khiếm thính ở người cao tuổi

Khuếch đại nghe phù hợp có thể là một thách thức vì sự kỳ thị liên quan đến hỗ trợ nghe cũng như chi phí của các thiết bị như vậy

Mê sảng mất trí và lú lẫn: phân tích bệnh cảnh lâm sàng

Ớ những bệnh nhân đang có bệnh lý ác tính, suy giảm miễn dịch hoặc ngã gần đây mà không có chấn thương đầu rõ ràng, đầu tiên cần tìm kiếm những nguyên nhân khác gây mê sảng nhưng cũng nên CT sọ não sớm để loại trừ.

Kiểm tra tính hợp lý trên lâm sàng

Khám lâm sàng hợp lý là một phần rộng lớn hơn được gọi là y học dựa trên bằng chứng, 'không nhấn mạnh trực giác, kinh nghiệm lâm sàng không hệ thống và cơ sở lý luận bệnh lý như đủ cơ sở để ra quyết định lâm sàng.

Đau ngực từng cơn: đặc điểm đau do tim và các nguyên nhân khác

Đau ngực do tim thường được mô tả điển hình là cảm giác bị siết chặt, đè nặng nhưng nhiều trường hợp khác có thể mô tả là bỏng rát. Nhiều bệnh nhân không cảm thấy đau mà chỉ là cảm giác khó chịu nếu chỉ hỏi về đau, có thể bỏ sót chẩn đoán.

Đau bụng cấp: triệu chứng kèm các dấu hiệu cảnh báo

Xét nghiệm bổ sung thường được yêu cầu ở bệnh nhân > 45 tuổi có triệu chứng mới khởi phát, sụt cân, suy sụp hoặc xét nghiệm sàng lọc bất thường.

Nôn ra máu: đánh giá nguyên nhân xuất huyết tiêu hóa trên

Với phần lớn các trường hợp chảy máu ở đường tiêu hóa trên, cấp cứu cứu sống bệnh nhân song song với lượng giá tình trạng bệnh là ưu tiên hàng đầu. Sau đó vấn đề chẩn đoán mới được đặt ra.

Chảy máu sau mãn kinh: phân tích triệu chứng

Chảy máu âm đạo bất thường là một vấn đề ngoại trú phổ biến, xảy ra ở 10% phụ nữ trên 55 tuổi và chiếm 70% số lần khám phụ khoa trong những năm tiền mãn kinh và sau mãn kinh.

Phòng chống bệnh tim mạch

Phòng chống bệnh tim mạch! Yếu tố nguy cơ gồm: Rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, hút thuốc lá...Giới tính, tiền sử gia đình mắc bệnh mạch vành sớm...

Buồn nôn và ói mửa: phân tích triệu chứng để chẩn đoán và điều trị

Buồn nôn là triệu chứng gặp phải trong nhiều rối loạn cũng gây nôn, nôn là một phản ứng nhằm bảo vệ khỏi việc nuốt phải các chất có hại hoặc độc hại.

Đánh trống ngực: nguyên nhân các loại rối loạn nhịp tim

Nguyên nhân gây nhịp nhanh, lo âu là nguyên nhân thường gặp nhất, với những bệnh nhân thường ghi nhận các đợt tim đập nhanh, đều, mạnh, bắt đầu và hồi phục trong vài phút.

Khối u ở vú: phân tích triệu chứng

Đánh giá khối u ở vú nên bắt đầu bằng việc hỏi bệnh sử đầy đủ và khám thực thể. Điều quan trọng là phải xác định nguy cơ mắc bệnh ung thư vú của bệnh nhân.

Phân tích triệu chứng sốt để chẩn đoán và điều trị

Sốt được định nghĩa là sự gia tăng nhiệt độ trung tâm của cơ thể trên mức bình thường hàng ngày đối với một cá nhân.

Hạch to khu trú: phân tích triệu chứng

Hạch cổ 2 bên thường do viêm họng, ở cổ phía sau cơ ức đòn chũm là một phát hiện đáng ngại hơn và cần được đánh giá thêm. Sờ hạch thượng đòn bên trái dẫn lưu các vùng trong ổ bụng và bên phải dẫn lưu phổi, trung thất và thực quản.

Chiến lược sử dụng thuốc giảm đau

Nếu cơn đau không thể kiểm soát mà không có tác dụng phụ khó chịu của thuốc, các bác sĩ nên xem xét sử dụng liều thấp hơn của nhiều loại thuốc, được thực hiện thường cho đau thần kinh

Nhịp tim nhanh: phân tích triệu chứng

Triệu chứng nhịp tim nhanh gồm khó chịu ở ngực, khó thở, mệt mỏi, choáng váng, tiền ngất, ngất và đánh trống ngực, cần tìm kiếm trong tiền sử bệnh lý.