- Trang chủ
- Thông tin
- Chẩn đoán và điều trị theo y học hiện đại
- Đánh giá chức năng nhận thức: lú lẫn mê sảng và mất trí
Đánh giá chức năng nhận thức: lú lẫn mê sảng và mất trí
Cần chắc chắn rằng sự suy giảm nhận thức rõ ràng không do các vấn đề giao tiếp hoặc một rối loạn riêng biệt về hiểu, khó tìm từ diễn đạt (mất ngôn ngữ diễn đạt), trí nhớ (hội chứng quên), hành vi và khí sắc.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Chức năng nhận thức bình thường
Rối loạn định hướng, hay quên, và tư duy lộn xộn thường dễ nhận biết trong cuộc hội thoại thông thường nhưng cần được xác định bằng đánh giá khách quan như test AMT (test tâm thần ngắn) hoặc Test MMSE (thang đánh giá trạng thái tâm thần tối thiểu). Sử dụng những công cụ này để sàng lọc lú lẫn trong tất cả bệnh nhân có não dễ tổn thương. Cần chắc chắn rằng sự suy giảm nhận thức rõ ràng không do các vấn đề giao tiếp (điếc, loạn vận ngôn, rào cản ngôn ngữ) hoặc một rối loạn riêng biệt về hiểu (mất ngôn ngữ tiếp nhận), khó tìm từ diễn đạt (mất ngôn ngữ diễn đạt), trí nhớ (hội chứng quên), hành vi và khí sắc. Bệnh nhân trầm cảm thường có điểm số thấp trong các test thường quy, qua việc từ chối hay tự nguyện trả lời các câu hỏi hơn là việc trả lời sai. Nếu những bệnh nhân này được điều trị thì biểu hiện có thể cải thiện.
Chức năng nhận thức cơ bản bình thường
Củng cố chức năng nhận thức cơ bản và bất kỳ sự thay đổi trạng thái tâm thần gần đây thông qua việc nói chuyện với người thân/ bạn bè/ những người chăm sóc và kiểm tra các đánh giá nhận thức trước đây. Hỏi kỹ rất quan trọng bởi vì người thân có thể cảm nhận được nhận thức cơ bản bình thường trước đây- khi bệnh nhân sống trong môi trường quen thuộc, nhìn thấy những người quen thuộc, nói chuyện về những chủ đề quen thuộc và không căng thẳng về những sự kiện gần đây - ngay cả khi như vậy thì thực tế nhận thức cơ bản đã suy giảm.
Giảm chức năng nhận thức cấp tính, diễn tiến dao động, ý thức/ chú ý thay đổi
Sử dụng phương pháp đánh giá lú lẫn (công cụ lâm sàng CAM) để chẩn đoán mê sảng. Củng cố chức năng nhận thức cơ bản, tìm kiếm bất kỳ bằng chứng nào của sự thay đổi cấp tính.
Dành thời gian nói chuyện với bệnh nhân và quan sát hành vi. Ngoài việc quan sát trực tiếp, cần tìm kiếm bằng chứng của sự thay đổi bất thường thông qua việc trao đổi với điều dưỡng hoặc xem lại các ghi nhận của đêm trước. Mê sảng thường chồng lấp với mất trí (lú lẫn cấp trên nền mạn) - tìm kiếm các gợi ý quan trọng như sự suy giảm đột ngột khả năng nhận thức, thay đổi ý thức, diễn tiến dao động và khó tập trung.
Khí sắc/ hoạt động/ thích thú giảm hoặc thang điểm trầm cảm người già lớn hơn bốn
Trầm cảm có thể giống mất trí hoặc làm nặng mất trí. Hỏi bệnh nhân xem bệnh nhân có cảm thấy tâm trạng tồi tệ không nhưng vẫn hỏi về những điều họ thích (họ có còn thích điều đó không?), hỏi về các triệu chứng sinh học (dậy sớm, chán ăn, sụt cân). Trong suốt cuộc hội thoại cần chú ý các biểu hiện như cảm giác có tội, bi quan, các suy nghĩ tiêu cực khác (đặc biệt nếu cường điệu quá hoặc không phù hợp với hoàn cảnh), vận động chậm chạp, cảm xúc trầm hoặc ít thay đổi, tương tác bằng mắt kém. Hệ thống điểm đánh giá ví dụ như thang đánh giá trầm cảm người già (GDS) có thể hỗ trợ chẩn đoán. Nếu không chắc chắn, tham khảo đánh giá của bác sĩ chuyên khoa hoặc đánh giá lại sau điều trị thử.
Không có sự tách biệt hoàn toàn giữa lú lẫn cấp và mạn tính khi nhắc đến thời gian và nguyên nhân. Ngay cả khi nguyên nhân không còn nữa, mê sảng có thể phải mất vài tuần mới thoái lui hoàn toàn. Hơn nữa, lú lẫn mạn tính có thể thay đổi bất thường. Tuy nhiên, nếu lú lẫn tồn tại > 2 tuần mà không có nguyên nhân cấp tính rõ ràng hoặc bằng chứng cải thiện thì đánh giá thêm về lú lẫn mạn tính.
Bài viết cùng chuyên mục
Đau đầu: đánh giá bệnh cảnh lâm sàng
Loại trừ xuất huyết dưới nhện ở bất kỳ bệnh nhân nào có đau đầu dữ dội lần đầu tiên hay là đau đầu nặng nhất họ từng trải qua mà đạt đỉnh trong 5 phút từ lúc khới phát và dai dẳng hơn 1 giờ.
Lú lẫn mê sảng: đánh giá khi có tổn thương
Khi không chỉ định chụp hình ảnh não, có thể duy trì các biện pháp điều trị trong vài ngày. CT sọ não có thể được chỉ định để loại trừ xuất huyết dưới nhện và những bất thường cấu trúc khác nếu bệnh nhân thất bại điểu trị hoặc nặng hơn.
Tràn khí màng phổi: phân tích triệu chứng
Tràn khí màng phổi có hai loại chính, tự phát và không tự phát, tự phát phân thành nguyên phát hoặc thứ phát, tràn khí không tự phát là do chấn thương, do điều trị.
Phòng chống thương tích và bạo lực
Giết người và tai nạn xe cơ giới là một nguyên nhân chính gây tử vong liên quan đến thương tích ở người trưởng thành trẻ tuổi
Vàng da: đánh giá bổ sung bệnh gan mạn tính
Đánh giá biến chứng ở tất cả những bệnh nhân xơ gan đã biết hoặc nghi ngờ. Lượng giá bệnh não gan và khám báng, phù, vàng da và suy dinh dưỡng. Đo albumin và PT để đánh giá chức năng tổng hợp của gan.
Phân tích triệu chứng mệt mỏi để chẩn đoán và điều trị
Mệt mỏi có thể là do vấn đề y tế, bệnh tâm thần hoặc các yếu tố lối sống, trong một số trường hợp, nguyên nhân không bao giờ được xác định.
Yếu chi: đánh giá triệu chứng trên bệnh cảnh lâm sàng
Yếu chi một bên có thể do nhiều nguyên nhân không đột quỵ gây ra và không nên vội vàng lờ đi các nguyên nhân này để có thể kiểm soát thích hợp.
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua tiền sử bệnh lý
Sau khi yêu cầu bệnh nhân mô tả các triệu chứng hoặc vấn đề y tế khiến họ phải tìm kiếm sự chăm sóc y tế, hãy bắt đầu khám phá mối quan hệ giữa chế độ ăn uống và bệnh có thể tồn tại.
Dáng đi bất thường: phân tích triệu chứng bệnh lý
Sự tầm soát dáng đi nhạy cho việc phát hiện những bất thường về thần kinh vận động, cảm giác và hệ cơ xương ở chi dưới bởi vì bước đi là một hoạt động phối hợp phức tạp so với các test chức năng thần kinh.
Giai đoạn cuối đời của bệnh nhân
Trải nghiệm của bệnh nhân vào cuối của cuộc sống bị ảnh hưởng bởi những kỳ vọng của họ về cách họ sẽ chết và ý nghĩa của cái chết.
Rối loạn thăng bằng: các nguyên nhân cảm giác mất thăng bằng
Sự cân bằng đòi hỏi tín hiệu vào từ nhiều bộ phận cảm thụ cảm giác (thị giác, tiền đình, xúc giác, cảm giác bản thể). Giảm chức năng nhi ều hơn một trong các bộ phận này, dù rất nhỏ cũng có thể gây mất thăng bằng.
Cổ trướng: phân tích triệu chứng
Cổ trướng là do giãn động mạch ngoại vi ở bệnh nhân xơ gan, tăng áp tĩnh mạch cửa gây ra tăng áp lực xoang, gây ra sự giãn động mạch nội tạng và ngoại biên qua trung gian oxit nitric.
Chẩn đoán bệnh lý: tổng hợp các bước của quá trình
Phương pháp chính xác để đạt được chẩn đoán có thể sẽ có phần khó hiểu cho những người mới bắt đầu thực hành lâm sàng. Những người chẩn đoán giỏi lúc nào cũng sử dụng một vài kỹ năng bổ trợ mà đã thu lượm được qua hàng năm hoặc hàng chục năm kinh nghiệm.
Định hướng chẩn đoán khó thở
Khi đánh giá bệnh nhân bị khó thở, nhớ rằng mức độ nặng của chúng có tính chủ quan cao, có thể không cảm thấy có chút khó thở nào mặc dù có sự rối loạn trao đổi khí nặng.
Phết tế bào cổ tử cung bất thường: phân tích triệu chứng
Hầu hết bệnh nhân mắc chứng loạn sản cổ tử cung đều không có triệu chứng. Cũng có thể xuất hiện bằng chứng khi xem bên ngoài bao cao su, tiết dịch âm đạo hoặc thậm chí chảy máu âm đạo.
Nguyên tắc chăm sóc rối loạn ở người già (lão khoa)
Dấu hiệu bệnh thường không điển hình ở bệnh nhân cao tuổi. Một rối loạn trong một hệ thống cơ quan có thể dẫn đến các triệu chứng trong bối cảnh đan xen, đặc biệt là bị ảnh hưởng bởi bệnh từ trước.
Điều trị đau không dùng thuốc và diễn biến cuối đời
Nhiều bệnh nhân bị bệnh nan y chết trong tình trạng mê sảng, rối loạn ý thức và một sự thay đổi nhận thức mà phát triển trong một thời gian ngắn và được thể hiện bằng cách giải thích sai
Phòng chống lạm dụng rượu và ma túy bất hợp pháp
Phòng chống lạm dụng rượu và ma túy bất hợp pháp! Tỷ lệ lạm dụng có vẻ cao hơn ở nam giới, người da trắng, thanh niên chưa lập gia đình và cá nhân...
Sưng bìu: phân tích các bệnh cảnh lâm sàng
Phần lớn các nguyên nhân gây sưng bìu đều lành tính, nhưng các khối u tế bào mầm có thể là nguyên nhân hàng đầu của bệnh lý ác tính gặp ở người trẻ.
Phân tích triệu chứng chóng mặt để chẩn đoán và điều trị
Triệu chứng chóng mặt có thể bao gồm ngất xỉu, choáng váng, lâng lâng hoặc đứng không vững, chóng mặt thực sự, cảm giác chuyển động bất thường hoặc quay cuồng.
Viêm họng: phân tích triệu chứng
Viêm họng bao gồm nhiều loại nguyên nhân, nhưng phổ biến nhất ở những người có khả năng miễn dịch bình thường là viêm họng nhiễm trùng cấp tính, chủ yếu là do virus.
Hiệu giá kháng thể kháng nhân (ANA) cao: phân tích triệu chứng
Kháng thể kháng nhân (ANA) được tạo ra ở những bệnh nhân mắc bệnh mô liên kết tự miễn dịch chủ yếu thuộc nhóm immunoglobulin G và thường có mặt ở mức độ cao hơn.
Nhiễm trùng đường hô hấp: những đánh giá bổ sung khi thăm khám
Ở những bệnh nhân khỏe mạnh trước đó mà không có dấu hiệu ngực khu trú hoặc bất thường trên XQ phổi, chẩn đoán nhiều khả năng là nhiễm trùng hô hấp không viêm phổi, ví dụ viêm phế quản cấp.
Đau ngực, chẩn đoán và điều trị
Thiếu máu cơ tim thường được mô tả là tức nặng, đau cảm giác áp lực, thắt chặt, ép, chứ không phải là nhói sắc nét hoặc co thắt
Hạch to khu trú: phân tích triệu chứng
Hạch cổ 2 bên thường do viêm họng, ở cổ phía sau cơ ức đòn chũm là một phát hiện đáng ngại hơn và cần được đánh giá thêm. Sờ hạch thượng đòn bên trái dẫn lưu các vùng trong ổ bụng và bên phải dẫn lưu phổi, trung thất và thực quản.
