Ma túy đá (Meth): cai thuốc, giải độc càng sớm càng tốt

2019-05-07 06:45 PM
Ma túy đá hay còn gọi là hàng đá, chấm đá là tên gọi chỉ chung cho các loại ma túy tổng hợp, có chứa chất methamphetamine và amphethamine thậm chí là niketamid được phối trộn phức tạp từ nguyên liệu tự nhiên

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Trước hết, xin đề nghị bệnh nhân đi đến bác sĩ hoặc phương tiện chữa trị cai thuốc, giải độc càng sớm càng tốt, vì methamphetamine (meth) là một thuốc nguy hiểm, có tác dụng ngay cũng như tác dụng lâu dài trên não bộ và trên các bộ phận quan yếu khác như hệ tuần hoàn (mạch máu, tim), thận, răng miệng. Meth cũng làm cho hệ miễn nhiễm của cơ thể yếu đi, cơ thể dễ bị nhiễm trùng hơn.

Amphetamine được phát minh từ cuối thế kỷ thứ 19 (L. Edeleano, 1887) tại Đức. Methamphetamine được bào chế từ chất ephedrine tại Nhật (Nagayoshi, 1888). Methamphetamine, mạnh hơn và dễ bào chế hơn amphetamine, được tổng hợp đầu thế kỷ thứ 20 tại Nhật (1919). Hai phe trong thế chiến thứ 2 đều cho binh sĩ dùng thuốc này để họ tỉnh táo hơn. Toán không quân Nhật kamikaze cảm tử từng được cho dùng liều cao methamphetamine trước khi ra trận. Thuốc này được phát tán sau chiến tranh ở Nhật và gây một dịch nghiện thuốc. Sau đó thuốc được dùng trong y khoa để làm sụt cân (diet) và chữa bịnh trầm cảm. Trong thập niên 1970, chính phủ Mỹ quyết định cấm dùng methamphetamine, chỉ trừ những trường hợp ngoại lệ. Trong thập niên 1990, các tập đoàn Mễ Tây Cơ (drug cartel) tổ chức sản xuất thuốc này ào ạt tại California và phân phối khắp nước Mỹ và Châu Âu. Ở Mỹ, methamphetamine dạng tinh thể (crystal methamphetamine, crystal meth) có các tên lóng sau đây: Blade, Crystal, Batu, Ice, Quartz, Glass.

Theo Wikipedia: “Ma túy đá hay còn gọi là hàng đá, chấm đá là tên gọi chỉ chung cho các loại ma túy tổng hợp, có chứa chất methamphetamine (meth) và amphethamine (amph) thậm chí là niketamid được phối trộn phức tạp từ nguyên liệu tự nhiên và hóa chất khác nhau trong đó thành phần chính, phổ biến là methamphetamine. Loại ma túy này được giới sử dụng gọi là "đá" vì hình dạng bên ngoài trông giống đá - là tinh thể kết tinh thành những mảnh vụn li ti, gần giống với hạt mì chính (bột ngọt) hoặc giống hạt muối và óng ánh giống đá. Ngoài dạng phổ biến trên, ma túy đá còn bán bất hợp pháp trên thị trường dưới các dạng cục, bột, viên nén. Đây là một loại ma tuý mới tồn tại dưới dạng thức tinh thể”.

Hiện nay có chừng 35 triệu người dùng thuốc này trên thế giới (dân số 7600 triệu), với 10 triệu người ở Mỹ (dân số 325 triệu). Số nhập viện về chất kích thích này tăng hơn hai lần trong 7 năm gần đây, và thuốc giết chết chừng 10,000 người Mỹ mỗi năm, vì làm áp huyết vụt tăng cao, gây suy đa bộ phận, suy tim và tai biến mạch máu não.

Đạo luật chống dịch Methamphetamine năm 2005 (TT Bush) cấm bán thuốc không kê đơn có chứa thành phần pseudoephedrine, thường được sử dụng để sản xuất methamphetamine. Việc bán thuốc cảm lạnh chứa pseudoephedrine được giới hạn ở phía sau quầy (behind the counter). Số lượng pseudoephedrine mà một cá nhân có thể mua mỗi tháng bị hạn chế và các cá nhân được yêu cầu xuất trình giấy tờ tùy thân có ảnh để mua các sản phẩm có chứa pseudoephedrine. Ngoài ra, các cửa hàng được yêu cầu giữ thông tin cá nhân về người mua trong ít nhất hai năm.

Theo Vietnam Express "Theo số liệu của cảnh sát, Việt Nam có hơn 222.000 người nghiện ma túy vào cuối năm 2017 và số lượng ngày càng tăng phụ thuộc vào các loại ma túy tổng hợp như methamphetamin, thuốc lắc hoặc ketamine. Tại Đà Nẵng ở miền trung Việt Nam, người sử dụng ma túy tổng hợp chiếm 86% người nghiện ma túy. Tỷ lệ ở tỉnh miền trung Quảng Trị là 84% và tỉnh Trà Vinh là 91%. Các vụ án hình sự liên quan đến việc sử dụng thuốc, cụ thể là methamphetamine, đã nổi bật trên các phương tiện truyền thông địa phương gần đây”.

Theo một báo cáo mới đây của Liên Hiệp Quốc, sản xuất methamphetamine càng ngày càng gia tăng, với giá rẻ hơn. Thuốc phát xuất từ vùng "Tam giác vàng", nằm ở biên giới chung của Miến Điện, Trung Quốc, Lào và Thái Lan. Việt nam là một trục phân phát chính.

Methamphetamine (“meth”) thuộc nhóm thuốc gọi là thuốc kích thích tâm lý vận động" (psychomotor stimulants). Căn bản, nghĩa là bằng cách tác dụng gia tăng mức dẫn truyền thần kinh như dopamine, norepinephrine, serotonin các hiệu ứng meth trên não bao gồm các chức năng kiểm soát chuyển động (movement control) cũng như tình trạng sức khỏe tinh thần và trạng thái quân bình của các cảm xúc.

Kết quả là, người dùng thuốc này ở liều lượng lớn có thể bắt đầu cảm thấy "phê" (high) và ngất ngây, và có thể nhiều lời, lắm mồm và bồn chồn, mất bình tĩnh. Ngoài ra, họ cũng sẽ cảm thấy dễ tập trung và tỉnh táo hơn, và những cảm giác này có thể kéo dài hàng giờ, không giống như người lạm dụng cocain mà hiệu ứng chỉ kéo dài trong 30-60 phút.( Khi lạm dụng "crack" tác dụng còn ngắn hơn. Crack là cocain được chế biến bằng cách nấu với sodium bicarbonate để có thể hút được, chỉ sau 8 giây là qua màng phổi, đi vào máu, vào đến não, tạo nên khoái cảm rất nhanh, cao hơn nhưng ngắn hơn cocain thường.

Vì lạm dụng amphetamines cho cảm giác sung sức, tăng năng lượng và tỉnh táo hơn, cho nên có khả năng gặp những tác động tiêu cực của những cảm giác này. Một khi khoái cảm "phê" (high) ban đầu bắt đầu biến mất, người dùng thuốc sẽ bắt đầu cảm thấy lo lắng, sợ hãi và có cảm giác bị theo dõi, bức hại (paranoia). Những cảm giác này xảy ra do có sự tích tụ mạnh mẽ của các chất dẫn truyền thần kinh nói trên trong não bộ, và vì trải nghiệm về khả năng tập trung (focus) với cường độ của não bộ chỉ kéo dài trong thời gian giới hạn, sau đó sự lo lắng và hoang tưởng sẽ theo sau.

Với việc sử dụng lặp đi lặp lại, thuốc có thể kích hoạt một tình trạng gọi là "kích động tâm lý vận động" (psychomotor agitation, chỉ những chuyển động cơ thể ngẫu nhiên không có mục đích cụ thể hoặc ngoài ý muốn). Người sử dụng methamphetamine có thể co giật không kiểm soát và chuyển động giật hoặc lặp đi lặp lại ảnh hưởng đến các cơ của toàn thân hoặc trên khuôn mặt. Bệnh nhân cũng có thể quơ tay chân và thân thể họ có thể vặn mình uốn éo một cách hỗn loạn.

Kích động tâm lý vận động (psychomotor agitation) có thể làm cho những người trải nghiệm nó khổ sở và những người xung quanh lo ngại.

Người đang trải qua cơn kích động, nhận thức được những cử động ngoài ý muốn này của mình, họ biết rằng người khác đã nhận thấy những động tác đó, điều này có thể làm họ khổ sở thêm và gia tăng tình trạng lo âu, kích động.

Người trải nghiệm tình trạng kích động có thể cảm thấy mình không thể ngồi yên, có cảm giác cơ thể họ cứng lại, họ không thể làm sao giảm bớt tình trạng căng thẳng, họ tuyệt vọng không tìm một thế thoải mái, càng lúc càng lo lắng, như thể các suy nghĩ chạy qua nhanh không kiểm soát được (racing thoughts), họ muốn khóc, bực tức, cáu kỉnh.

Những cảm giác này có thể khiến họ đi vòng vòng trong một căn phòng, vắt tay, gõ nhịp ngón tay, gõ nhịp bàn chân, bồn chồn, bắt đầu một việc nào đó và dừng đột ngột, nói rất nhanh, vô cớ di chuyển đồ vật xung quanh, cởi quần áo ra rồi mặc lại.

Tuy nhiên, một số người bị kích động có những hành vi này ở mức không kiểm soát được, không có mục đích, có vẻ điên cuồng, những hành vi lặp đi lặp lại, rất nhanh, co giật, bực bội.

Những người bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn bởi kích động tâm lý vận động có thể hành xử theo cách có thể gây hại cho cơ thể của họ, như cắn môi đến chảy máu, tách lột da ra khỏi môi, lột móng tay, nhai, cắn vào thịt trong má của họ. Báo chí tại Việt Nam thường kể những chuyện bệnh nhân nghiện "đá" tự huỷ hoại thân thể như đốt chảy bao nylon rồi cho nhỏ lên da mình, tự cắt đứt bộ phận sinh dục, hay đâm chém, giết người kể cả người trong gia đình vì họ cảm thấy bị đe doạ, bị ma quỷ ám.

Bác sĩ có thể dùng những thuốc giúp ổn định tính khí (mood stabilizer) cho bệnh nhân, chống co giật và sau đó giúp tẩy độc cho bệnh nhân. Theo báo Vietnam Express, Việt nam bắt đầu dùng thuốc như D-amphetamine, methylphenidate, bupropion (thuốc chống trầm cảm) , mirtazapine (Remeron, thuốc chống trầm cảm), naltrexone (thường dùng để cai nghiện rượu hay ma túy/opioid) kèm với tâm lý trị liệu để chữa những người nghiện “thuốc tổng hợp” (synthetic drugs) như methamphetamine, làm giảm số lượng meth bệnh nhân cần và điều trị các ảo giác do thuốc gây ra. Theo báo này, trước đây ở Việt Nam chỉ dùng tâm lý trị liệu mà thôi.

Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể khám xem bệnh nhân có những ngộ độc khác kèm theo không (do những chất khác được pha thêm vào meth/”đá”), xem người bệnh có bị những bệnh nhiễm như HIV, viêm gan B, C (thường truyền qua tình dục hay ống chích) hay không.

Bài viết cùng chuyên mục

Bại não (Cerebral palsy)

Các trẻ có những bất thường về cấu trúc não, nhiều bệnh di truyền, những bất thường của nhiễm sắc thể, và những dị tật cơ thể khác cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh bại não.

Cách tăng mức độ hoạt động cơ thể

Sự kết hợp của tập thể dục aerobic và đào tạo sức mạnh dường như có lợi ích tổng thể tốt nhất khi nói đến việc giảm sức đề kháng insulin và làm giảm lượng đường trong máu

Ngáp: tại sao nó rất dễ lây lan và tại sao nó lại quan trọng

Ngáp lây nhiễm, được kích hoạt một cách không tự nguyện, khi chúng ta quan sát người khác ngáp, đó là một hình thức phổ biến của ngáp

Sars CoV-2 biến thể Delta: độc lực và các triệu chứng khi nhiễm trùng

Sars CoV-2 biến thể Delta, các nghiên cứu dường như cho thấy rằng nó gây ra nhiều trường hợp nhập viện và ốm đau hơn, nhưng vẫn chưa rõ liệu nó có làm tăng số ca tử vong hay không.

Tổn thương tủy sống (Spinal cord Injury)

Giống như não, tủy sống được bao bọc bởi ba màng (màng não): màng mềm, lớp tận trong cùng; màng nhện, lớp giữa mỏng manh; và màng cứng, là lớp ngoài cùng cứng hơn.

Vắc xin COVID-19: mọi người có thể cần liều thứ ba trong vòng 12 tháng

Một kịch bản có khả năng xảy ra là sẽ có khả năng cần đến liều thứ ba, trong khoảng từ 6 đến 12 tháng, và sau đó, sẽ có một đợt hủy bỏ hàng năm, nhưng tất cả những điều đó cần phải đã xác nhận.

Cholesterol máu cao: điều gì gây ra nó?

Sự tích tụ cholesterol là một phần của quá trình thu hẹp động mạch, được gọi là xơ vữa động mạch, trong đó các mảng bám tạo thành và hạn chế lưu lượng máu

Dịch truyền tĩnh mạch: nước muối ưu trương

Muối ưu trương làm tăng đáng kể nồng độ natri huyết tương, và độ thẩm thấu, ban đầu cần một lượng nhỏ dung dịch muối ưu trương, để hồi sức

Sars CoV-2: đáp ứng miễn dịch sau nhiễm trùng

Các kháng thể đặc hiệu với SARS-CoV-2 và các đáp ứng qua trung gian tế bào được tạo ra sau khi nhiễm trùng. Bằng chứng cho thấy một số phản ứng này có tính chất bảo vệ và có thể được phát hiện trong ít nhất một năm sau khi nhiễm bệnh.

Tại sao bệnh tiểu đường gây đau đầu?

Một cơn đau đầu có thể chỉ ra rằng lượng đường trong máu quá cao, được gọi là tăng đường huyết, hoặc quá thấp, được gọi là hạ đường huyết

Diễn biến lâm sàng COVID 19

Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh nặng vẫn chưa rõ ràng, mặc dù bệnh nhân lớn tuổi và những người mắc bệnh mãn tính có thể có nguy cơ mắc bệnh nặng cao hơn

Kháng thể sau khi tiêm vắc xin COVID-19: những điều cần biết

Vẫn còn nhiều điều mà các nhân viên y tế không biết về cách vắc-xin hoạt động ở bệnh nhân, cách giải thích kết quả xét nghiệm kháng thể sau khi bạn tiêm vắc-xin COVID-19 và những bước có thể được thực hiện nếu không đạt bảo vệ đủ.

Lọc máu: tác dụng phụ của chạy thận nhân tạo và lọc màng bụng

Cả chạy thận nhân tạo và thẩm phân phúc mạc đều gây ra tác dụng phụ, điều này là do cách lọc máu được thực hiện và thực tế nó chỉ có thể bù đắp một phần cho việc mất chức năng thận

Mang thai và hội chứng tiền kinh nguyệt: những điều cần biết

Làm xét nghiệm thử thai là cách tốt nhất và dễ nhất để xác định xem đó là PMS hay mang thai sớm, có thể làm xét nghiệm tại nhà hoặc đến nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe

Dùng paracetamol trong thai kỳ: dẫn đến các vấn đề về hành vi của trẻ

Sử dụng paracetamol trong khi mang thai, có liên quan đến việc tăng điểm số nghiên cứu, chủ yếu là xung quanh sự hiếu động hoặc sự chú ý

Ích kỷ bệnh lý: điều gì thúc đẩy từ bệnh lý tâm thần?

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ cố gắng tìm ra chính xác những gì diễn ra bên trong bộ não của những người vô cùng tự tin nhưng vô cảm này

Mức cholesterol: những độ tuổi nào nên kiểm tra?

Mọi người, nên kiểm tra cholesterol, trong độ tuổi 20, hoặc 30, để họ có thể cân nhắc thực hiện các bước để hạ thấp nó

Đặc điểm lâm sàng Covid 19

Khoảng 20 đến 30 phần trăm bệnh nhân nhập viện, với COVID 19, và viêm phổi, phải được chăm sóc đặc biệt để hỗ trợ hô hấp.

Insulin hàng tuần: điều trị tiểu đường loại 2 kiểm soát lượng đường trong máu

Giảm số lần tiêm insulin hàng tuần có thể cải thiện sự tuân thủ điều trị, có thể mang lại kết quả tốt hơn với tiêm insulin nền hàng ngày, dùng liều một lần mỗi tuần cũng có thể làm tăng mức độ sẵn sàng bắt đầu điều trị bằng insulin của bệnh nhân tiểu đường loại 2.

Điều trị ung thư: thuốc mới tấn công gen gây ung thư

Một nghiên cứu tập trung vào ung thư vú và phổi, và nghiên cứu kia tập trung vào các bệnh ung thư, liên quan đến béo phì

Tính liều insulin hàng ngày cho bệnh nhân tăng đường huyết

Các chuyên gia nói rằng các bác sĩ có thể sử dụng bất kỳ một trong ba chiến lược khác nhau, tùy thuộc vào việc bệnh nhân đã sử dụng insulin như bệnh nhân ngoại trú hay trong ICU

Sử dụng thuốc đông tây y kết hợp: sự việc có thể đáng lo ngại

Điều đáng chú ý là, những loại tương tác thuốc này, có thể ảnh hưởng đến mọi người, ở mọi lứa tuổi, không chỉ những người trên 65 tuổi

Chóng mặt khi đứng lên: nguyên nhân do hạ huyết áp tư thế đứng

Những người bị hạ huyết áp tư thế đứng có thể cảm thấy chóng mặt khi họ đứng lên, tình trạng này thường nhẹ và kéo dài chỉ vài phút sau khi đứng

Ngộ độc thủy ngân: chăm sóc và tiên lượng

Điều trị sớm bất kỳ hình thức ngộ độc thủy ngân nào, cũng có cơ hội cải thiện tiên lượng, giảm tổn thương mô và ảnh hưởng thần kinh của chất độc

Đột quỵ: đã xác định được yếu tố nguy cơ di truyền

Một nhóm các nhà nghiên cứu Geisinger đã xác định một biến thể di truyền phổ biến là một yếu tố nguy cơ gây đột quỵ, đặc biệt là ở những bệnh nhân trên 65 tuổi.