Hội chứng Hellp: chẩn đoán và điều trị hồi sức tích cực

2020-02-17 11:17 AM

Hội chứng Hellp, là bệnh lý sản khoa đặc trưng bời thiếu máu do tan máu, tăng men gan, và giảm tiểu cầu, xuất hiện vào nửa cuối của thời kỳ có thai

HELLP là từ viết tắt đề cập đến một hội chứng ở phụ nữ mang thai và sau sinh được đặc trưng bởi tan máu, men gan cao và tiểu cầu thấp. Nó có thể đại diện cho một dạng tiền sản giật nặng, nhưng mối quan hệ giữa hai rối loạn này vẫn còn gây tranh cãi. Một số nhà nghiên cứu tin rằng HELLP là một rối loạn riêng biệt từ tiền sản giật vì có đến 15 đến 20 phần trăm bệnh nhân mắc hội chứng HELLP không bị tăng huyết áp hoặc protein niệu trước đó.

Cuối cùng, các dấu hiệu và triệu chứng được giải quyết sau sinh. Các biến chứng của mẹ chủ yếu liên quan đến chảy máu, có thể bao gồm xuất huyết. Biến chứng sơ sinh chủ yếu liên quan đến tuổi thai khi sinh, thường là sinh non.

Tác giả Weinstein mô tả năm 1982.

Là một bệnh lý sản khoa đặc trưng bời các biểu hiện: thiếu máu do tan máu; tăng men gan và giảm tiểu cầu xuất hiện vào nửa cuối của thời kỳ có thai.

Tỉ lệ mắc bệnh là 2% - 12%, tỉ lệ tử vong của mẹ là 35%.

Do có nguy cơ gây tử vong cả mẹ và thai nên hội chứng HELLP (hemolysis, elevated liver enzymes, low platelets) thực sự là một cấp cứu cần được chẩn đoán và xừ trí cấp cứu tại các đơn vị sản khoa và hồi sức cấp cứu.

Ở Việt Nam chưa có số liệu chính xác về hội chứng HELLP.

Chẩn đoán xác định

Triệu chứng lâm sàng

Phần lớn hội chứng Hellp xuất hiện trên nền một nhiễm độc thai nghén (tiền sản giật hoặc sản giật.

Triệu chứng lâm sàng hay gặp: cảm giác khó chịu (90%); đau thượng vị (65%); nhức đầu (31%); buồn nôn và nôn.

Triệu chứng cận lâm sàng (ba tiêu chuẩn của hội chứng HELLP)

Tan máu do tổn thương vi mạch: tan máu cấp tính trong lòng mạch, tăng bilirubin gián tiếp, tăng LDH, giảm haptoglobulin máu, tìm thấy mảnh vỡ hồng cầu và hồng cầu bị biến dạng trên tiêu bản máu đàn.

Tăng men gan, thường lấy giới hạn là tăng gấp 3 lần bình thường. Nguyên nhân là do thiếu máu tại gan, có thể dẫn tới nhồi máu gan, gây đau vùng hạ sườn phải trên lâm sàng.

Giảm tiểu cầu do ngưng kết trong lòng mạch, do lớp nội mô bị tổn thương lan tỏa.

Chẩn đoán phân biệt

Xuất huyết giảm tiểu cầu tắc mạch.

Đông máu nội quản rải rác.

Hội chứng có kháng thể kháng phospholipid.

Tăng huyết áp ác tính.

Thiếu máu tan máu ure huyết cao.

Phân loại hội chứng HELLP

Có 2 cách phân loại:

Theo MEMPHIS

Hội chứng HELLP một phần (có 1 hoặc 2 dấu hiệu bất thường).

Hội chứng HELLP đầy đù: có nhiều biến chứng cho mẹ —> nên chấm dứt thai kỳ.

Dựa trên số lượng tiểu cầu

Độ I: < 50.000mm3.

Độ II: 50.000 - 100.000mm3.

Độ III: 100.000 - 150.000mm3.

Mức độ năng tùy thuộc vào số lượng tiểu cầu.

Biến chứng hội chứng HELLP

Đông máu nội quản rải rác (DIC).

Rau bong non.

Suy thận.

Phù phổi cấp.

Máu tụ dưới bao gan.

Các biến chứng chảy máu. I.

Bảng. Chẩn đoán phân biệt của hội chứng HELLP

Chẩn đoán phân biệt của hội chứng HELLP

Điều trị

Điều trị cho mẹ

Hạ huyết áp:

Nên khống chế huyết áp < 150/90mmHg, tốt nhất là hạ con số huyết áp xuống khoảng 10 - 15% con số ban đầu trong một vài giờ đầu.

Nên dùng thuốc hạ áp đường tĩnh mạch có tác dụng nhanh, ngắn, dễ điều chỉnh, thuốc đường uống được gối dần thay thế truyền tĩnh mạch.

Thuốc ưu tiên: Loxen (nicardipin) liều 1 -5 mg/giờ, gối dần thuốc uống nifedipin, labetalol.

Phòng ngừa co giật: magnesi Sulfat liều bolus tĩnh mạch 2 - 4g, sau đó duy trì truyền tĩnh mạch 1 - 2g/giờ (thận trọng khi suy thận).

Sử dụng các chế phẩm máu:

Truyền máu chỉ nên bắt đầu khi hematocrit < 25%, đặc biệt lưu ý khi mổ lấy thai.

Truyền tiểu cầu: mục đích dự phòng chảy máu khi cần can thiệp phẫu thuật hoặc đẻ chỉ huy (truyền tiểu cầu khi tiểu cầu < 20.000/ml).

Dịch truyền:

Do tăng tính thấm thành mạch nên thể tích thường bị giảm (cô đặc máu) dẫn đến cường catecholamin gây tăng huyết áp khó kiểm soát, giảm tưới máu thận. Tuy nhiên, nếu bù dịch nhiều thì lại có nguy cơ cao gây phù phổi, nên phải theo dõi liên tục ALTMTT và nước tiểu.

Đánh giá tình trạng thai nhi và quyết định thời điểm chấm dứt thai kỳ

Thời điểm chấm dứt thai kỳ tùy thuộc vào tình trạng bệnh của mẹ, đáp ứng với điều trị của mẹ, tình trạng sức khỏe của thai và sự trưởng thành của thai.

Tiên lượng

Tỷ lệ tử vong mẹ khoảng 10%, tỉ lệ tử vong con từ 10% - 60% tùy thuộc tình trạng bệnh của mẹ.

20% - 30% sẽ bị hội chứng HELLP trong lần mang thai tiếp theo và 40% bị tiền sản giật trong những lần mang thai sau.

Bài xem nhiều nhất

Suy thượng thận: chẩn đoán và điều trị nội khoa

Điều trị thích hợp, và biện pháp phòng ngừa bổ sung, suy tuyến thượng thận có thể có cuộc sống năng động, và có tuổi thọ bình thường.

Nhiễm trùng do tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus): chẩn đoán và điều trị nội khoa

Tụ cầu vàng là cầu khuẩn Gram dương, không di động, không sinh nha bào, đứng riêng lẻ hoặc thành từng đôi. S.aureus có mặt ở khắp nơi, sự lây truyền trực tiếp từ các thương tổn mở hoặc gián tiếp.

Ngừng tuần hoàn: cấp cứu cơ bản

Cấp cứu ngừng tuần hoàn là thiết lập các bước cụ thể để giảm tử vong do tim ngừng đập, phản ứng được phối hợp cẩn thận đối với các trường hợp khẩn cấp, sẽ làm giảm tử vong

Hạ kali máu: chẩn đoán và điều trị hồi sức tích cực

Mức độ nghiêm trọng của các biểu hiện hạ kali máu, có xu hướng tỷ lệ thuận với mức độ, và thời gian giảm kali huyết thanh

Xuất huyết tiêu hóa trên: chẩn đoán và điều trị cấp cứu

Chảy máu đường tiêu hóa trên là một trường hợp khẩn cấp phổ biến, với một loạt các triệu chứng thực quản dạ dày tá tràng như nôn máu, phân đen, ít bị thiếu máu

Bệnh thủy đậu: chẩn đoán và điều trị nội khoa

Virus thủy đậu tăng cường sự lây nhiễm, bằng cách ức chế hệ thống miễn dịch vật chủ, chẳng hạn như giảm biểu hiện phức hợp tương hợp mô học chính.

Cơn đau quặn thận: chẩn đoán và điều trị cấp cứu

Đau bụng xảy ra khi sỏi bị kẹt trong đường tiết niệu, thường là trong niệu quản, sỏi chặn và làm giãn khu vực niệu quản, gây đau dữ dội

Đái tháo đường: hướng dẫn chẩn đoán và điều trị nội khoa

Đái tháo đường, là tình trạng tăng đường huyết mạn tính, đặc trưng bởi những rối loạn chuyển hoá carbohydrat, có kèm theo rối loạn chuyển hóa lipid và protein.

Suy hô hấp cấp: chẩn đoán và điều trị cấp cứu ban đầu

Suy hô hấp xảy ra khi các mạch máu nhỏ, bao quanh túi phế nang không thể trao đổi khí, gặp phải các triệu chứng ngay lập tức, do không có đủ oxy trong cơ thể

Hạ đường huyết: chẩn đoán và xử trí cấp cứu

Hạ đường huyết được định nghĩa là đường huyết nhỏ hơn 3 mmol mỗi lít, ở những bệnh nhân nhập viện, nên điều trị đường huyết nhỏ hơn hoặc bằng 4 mmol