Tổn thương não (Brain Injury)

2012-11-19 09:35 PM
Mô của bộ não bị tổn thương có thể phục hồi trong một thời gian ngắn, Tuy nhiên, một khi mô não đã chết hoặc bị phá hủy thì không còn cách nào để có thể tin rằng những tế bào não mới có thể phát triển trở lại.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Bộ não là trung tâm điều khiển cho mọi chức năng của cơ thể kể cả những hoạt động có ý thức (đi và nói chuyện) và những hoạt động vô thức (hô hấp, nhịp tim, v.v.). Đồng thời bộ não cũng điều khiển suy nghĩ, nhận thức, lời nói và cảm xúc. Tình trạng tổn thương tới bộ não, dù do chấn thương đầu nghiêm trọng hay chấn thương gần đầu không để lại vết nứt hoặc xuyên thủng cũng có thể phá vỡ một số hoặc tất cả những chức năng này.

Tổn thương não có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng và suốt đời đối với những chức năng của thể xác và tinh thần, bao gồm mất ý thức, trí nhớ và/hoặc tính cách thay đổi và bị liệt một phần hoặc liệt toàn thân.

Chấn thương sọ não (Traumatic brain injury - TBI) có nguyên nhân chủ yếu từ các vụ tai nạn xe gắn máy, ngã, hành động bạo lực và các chấn thương trong thể thao. Kiểu chấn thương này xảy ra ở nam giới nhiều hơn gấp hai lần so với phụ nữ. Theo ước lượng thì tỷ lệ người bị chấn thương sọ não là 100/100.000 và có 52.000 người chết mỗi năm. Độ tuổi bị tổn thương sọ não cao nhất là từ 15 đến 24 và từ 75 tuổi trở lên.

Được bao bọc trong khung xương của hộp sọ, não là một chất sệt lơ lửng trong một biển dịch não tủy. Chất dịch này đỡ bộ não và đóng vai trò như một lớp giảm sóc trong những cử động nhanh của đầu. Mặt ngoài của hộp sọ bằng phẳng, nhưng mặt trong thì lại gồ ghề – và cấu tạo này có thể gây nên tổn thương đáng kể trong những trường hợp chấn thương gần đầu vì bộ não bật lên nẩy lại vào cấu trúc nhiều xương trong hộp sọ.

Não có thể bị tổn thương do hộp sọ bị nứt hoặc đâm xuyên (ví dụ như trong trường hợp tai nạn xe cộ, rơi ngã hoặc trúng đạn), một diễn tiến bệnh tật (độc tố thần kinh, trường hợp nhiễm trùng, khối u, những bất thường trong quá trình trao đổi chất, v.v.) hoặc một chấn thương gần đầu ví dụ như trường hợp Hội chứng Trẻ Bị lắc (Shaken Baby Syndrome) hoặc đầu cử động theo chiều hướng tăng quá nhanh hoặc giảm quá nhanh.

Khi tổn thương có nguyên nhân do chấn thương thì tình trạng tổn thương tới bộ não có thể xảy ra vào thời điểm va chạm hoặc có thể diễn ra muộn hơn do bị sưng lên (phù não) và chảy máu vào não (xuất huyết trong não) hoặc máu chảy xung quanh não (xuất huyết ngoài màng cứng hoặc dưới màng cứng).

Khi đầu bị đập với một lực đủ mạnh, bộ não quay tròn và xoắn vào trục của nó (thân não), làm đứt các đường truyền thần kinh thông thường và gây nên tình trạng mất ý thức. Nếu trạng thái bất tỉnh này diễn ra trong một thời gian dài, người bị thương bị coi là đang hôn mê, một trạng thái do các sợi thần kinh chạy từ thân não tới vỏ não đã bị đứt gây nên.

Tình trạng chấn thương gần đầu thường xảy ra không để lại những biểu hiện bên ngoài rõ ràng nhưng sự khác nhau giữa những chấn thương gần đầu và chấn thương xuyên hộp sọ là rất rõ ràng. Ví dụ, nếu đầu bị một viên đạn xuyên thủng thì não có thể bị phá huỷ một vùng lớn nhưng hậu quả có thể là nhỏ vì vùng não đó không phải là vùng quan trọng.

Ngược lại, những chấn thương gần đầu thường để lại thương tổn trải rộng hơn và thiệt hại về hệ thần kinh lớn hơn, kể cả liệt một phần tới liệt hoàn toàn, sai lệch về nhận thức, hành vi và trí nhớ, tình trạng thực vật dai dẳng, và tử vong.

Mô của bộ não bị tổn thương có thể phục hồi trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, một khi mô não đã chết hoặc bị phá hủy thì không còn cách nào để có thể tin rằng những tế bào não mới có thể phát triển trở lại. Quá trình khôi phục lại thường tiếp tục ngay cả khi những tế bào mới không phát triển, có lẽ bởi vì những phần khác của bộ não đảm nhiệm chức năng của mô não đã bị phá hủy.

Tiến trình phục hồi bắt đầu ngay lập tức. Một khi trí nhớ bắt đầu được khôi phục lại, tỷ lệ hồi phục thường tăng lên. Tuy nhiên, nhiều vấn đề có thể vẫn diễn ra, bao gồm những vấn đề liên quan đến cử động, trí nhớ, sự chú ý, suy nghĩ phức tạp, lời nói và ngôn ngữ, và những thay đổi về hành vi.

Ngoài những hậu quả rõ ràng về thể xác do tổn thương não bộ gây nên, người chống chịu được qua tổn thương thường xuyên đối mặt với tâm lý chán nản, lo lắng, mất lòng tự trọng, tính cách thay đổi, và trong một số các trường hợp là bị mất khả năng tự nhận thức về mọi thiếu hụt hiện tại.

The sources: Resource Center on Brain Injury (Brain Injury Resource Center), the National Institute on Deafness and other Communication Disorders (National Institute on Deafness and Other Communication Disorders), the National Research Institute for System Disorders Neurology and Stroke (National Institute on Neurological Disorders and Stroke).

Bài viết cùng chuyên mục

Tiêm vắc xin Covid-19: an toàn cho người mang thai (trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ thông báo)

Tất cả những người đang mang thai hoặc những người đang nghĩ đến việc mang thai và những người đang cho con bú nên tiêm vắc xin để bảo vệ mình khỏi COVID-19.

Chảy máu sau mãn kinh: hãy kiểm tra

Phân tích cho thấy hầu hết chảy máu sau mãn kinh là do tình trạng không ung thư, chẳng hạn như teo âm đạo, u xơ tử cung hoặc polyp

Diễn biến lâm sàng COVID 19

Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh nặng vẫn chưa rõ ràng, mặc dù bệnh nhân lớn tuổi và những người mắc bệnh mãn tính có thể có nguy cơ mắc bệnh nặng cao hơn

Mang thai và hội chứng tiền kinh nguyệt: những điều cần biết

Làm xét nghiệm thử thai là cách tốt nhất và dễ nhất để xác định xem đó là PMS hay mang thai sớm, có thể làm xét nghiệm tại nhà hoặc đến nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe

Điểm G: nó là gì và vị trí ở đâu?

Tìm điểm G, có thể làm tăng khoái cảm tình dục của một số phụ nữ, và mang đến cho các cặp vợ chồng một thử thách tình dục thú vị để theo đuổi

Liều tăng cường vắc-xin coronavirus (COVID-19)

Từ 16 tuổi trở lên và sống với người bị suy giảm hệ thống miễn dịch (chẳng hạn như người nhiễm HIV, đã cấy ghép hoặc đang điều trị một số bệnh ung thư, lupus hoặc viêm khớp dạng thấp).

Men chuyển angiotensine 2 (ACE2): làm trung gian lây nhiễm SARS-CoV-2

Sự xâm nhập vào tế bào vật chủ là bước đầu tiên của quá trình lây nhiễm virus. Một glycoprotein tăng đột biến trên vỏ virus của coronavirus có thể liên kết với các thụ thể cụ thể trên màng tế bào chủ.

Viêm tủy ngang (Transverse Myelitis)

Tình trạng mất chất myelin thường xảy ra ở mức tổn thương ở ngực, gây ra những vấn đề về cử động ở chân và khả năng kiểm soát đại tràng và bàng quang

Đau vai do thần kinh bị chèn ép: điều gì đang xẩy ra?

Bác sĩ thường sẽ khuyên nên điều trị nội khoa đầu tiên, nếu cơn đau không đáp ứng với những cách điều trị này hoặc trở nên tồi tệ hơn, thì bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật

Tiểu đường loại 2: cách tính liều insulin

Khoảng một nửa nhu cầu insulin của cơ thể là nhu cầu cơ bản. Insulin cơ bản kiểm soát lượng đường trong máu qua đêm và giữa các bữa ăn

Thuốc bổ não: trò bịp bợm người dân

Đầu tư nhiều hơn vào tập thể dục, và tuân theo chế độ ăn dựa trên thực vật, có thể giúp ích cho trí nhớ, và sức khỏe của não

Vắc xin Sputnik V COVID-19: có vẻ an toàn và hiệu quả

Vắc xin Sputnik là vi-rút mang mầm bệnh được sửa đổi và không thể bắt đầu lây nhiễm hiệu quả; chúng xâm nhập vào tế bào, biểu hiện protein đột biến, và sau đó dừng lại vì chúng không thể tiếp tục vòng đời của virus bình thường.

Lựa chọn thuốc mới điều trị bệnh tiểu đường

Khi bị tiểu đường, cơ thể gặp khó khăn trong việc sử dụng insulin. Insulin là một chất được sản xuất bởi tuyến tụy giúp cơ thể bạn sử dụng glucose (đường) từ thực phẩm ăn.

Bệnh thận mãn tính: sống với bệnh thận giai đoạn một

Không có cách chữa trị bệnh thận, nhưng có thể ngăn chặn tiến triển của nó hoặc ít nhất là làm chậm thiệt hại, việc điều trị đúng và thay đổi lối sống có thể giúp giữ cho một người và thận của họ khỏe mạnh lâu hơn

Đối phó với đi tiểu thường xuyên vào ban đêm

Tiểu đêm có nhiều nguyên nhân khác như rối loạn tim và tiểu đường, các bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu, tuyến tiền liệt phì đại, suy gan, đa xơ cứng, ngưng thở khi ngủ

COVID-19 nghiêm trọng: một số trường hợp liên quan đến đột biến gen hoặc kháng thể tấn công cơ thể

Ít nhất 3,5 phần trăm bệnh nhân nghiên cứu bị COVID-19 nghiêm trọng, căn bệnh do coronavirus mới gây ra, có đột biến gen liên quan đến quá trình bảo vệ kháng vi-rút.

Uống rượu có an toàn khi cho con bú không?

Mặc dù uống trong chừng mực là an toàn, điều quan trọng là phải hiểu cồn trong sữa mẹ bao lâu sau khi uống và có thể làm gì nếu muốn tránh trẻ sơ sinh dùng chung rượu

Bảy cách giảm căng thẳng và giảm huyết áp

Cùng với những cách giảm căng thẳng, hãy bổ sung lối sống lành mạnh, duy trì cân nặng hợp lý, không hút thuốc, tập thể dục thường xuyên và chế độ ăn kiêng bao gồm trái cây

Biến thể delta của Sars-CoV-2: xuất hiện đầu tiên tại Ấn Độ và chúng ta biết gì về nó?

Biến thể của virus SARS-CoV-2 được gọi là delta tiếp tục lây lan nhanh chóng ở nhiều nơi trên thế giới. Chúng ta biết gì về biến thể này cho đến nay?

Bệnh tiểu đường: các yếu tố của chế độ ăn uống lành mạnh

Một mô hình ăn uống lành mạnh sẽ giúp giảm cân và kiểm soát lượng đường trong máu, huyết áp và cholesterol, nó cũng tốt cho tim, não, và mọi phần khác của cơ thể

Cà phê: tác dụng bảo vệ não như thế nào?

Đối với các nhà nghiên cứu, một khía cạnh thú vị khác của phát hiện này là các hợp chất cà phê này là tự nhiên và không đòi hỏi sự tổng hợp trong phòng thí nghiệm

Vắc xin Covid-19 Sputnik V (Gam-COVID-Vac): tính sinh miễn dịch hiệu quả và an toàn

Theo phân tích tạm thời của một thử nghiệm giai đoạn III, vắc-xin này có 91,6% (95% CI 85,6-95,2) hiệu quả trong việc ngăn ngừa COVID-19 có triệu chứng bắt đầu từ 21 ngày sau liều đầu tiên.

COVID 19: FDA tiến hành điều trị bằng huyết tương

Ý tưởng cái gọi là huyết tương nghỉ dưỡng này sẽ chứa kháng thể chống lại virus cho phép người khỏi bệnh hiến tặng, và do đó sẽ giúp đỡ những bệnh nhân bị bệnh.

Covid-19: tỷ lệ lớn bệnh nhân bị biến chứng khi mắc bệnh

Covid-19 là một bệnh thường gây ra các triệu chứng hô hấp nhẹ ở hầu hết mọi người. Tuy nhiên, một số cá nhân có vấn đề y tế cơ bản và người lớn tuổi có thể có nhiều nguy cơ bị bệnh nặng hơn.

Dịch truyền tĩnh mạch: tinh bột hydroxyethyl (HES)

Mặc dù tỷ lệ phản ứng phản vệ đáng kể liên quan đến HES, dường như là thấp, một số phản ứng phản vệ đã được báo cáo