- Trang chủ
- Thông tin
- Thông tin y học nước ngoài
- Tăng phản xạ tự phát (Autonomic Dysreflexia)
Tăng phản xạ tự phát (Autonomic Dysreflexia)
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Tăng Phản xạ Tự phát (Autonomic dysreflexia - (AD) là một bệnh lý có khả năng đe dọa tới tính mạng, có thể coi là một tình trạng cấp cứu y khoa. Bệnh gây ảnh hưởng chủ yếu đến những người có mức thương tổn từ T-5 trở lên.
Đối với bệnh tăng phản xạ tự phát thì cần phải có hành động nhanh và chính xác. Bệnh tăng phản xạ tự phát có thể gây ra đột quỵ. Do nhiều chuyên gia chăm sóc sức khỏe không thông thạo với bệnh lý này nên điều quan trọng là những người có nguy cơ mắc bệnh tăng phản xạ tự phát và những người sống gần với họ phải tìm hiểu về căn bệnh đó.
Cần làm gì?
Việc đầu tiên phải làm khi nghi ngờ có hiện tượng tăng phản xạ tự phát là phải ngồi dậy hoặc nâng cao đầu tới 90 độ. Nếu quý vị có thể hạ thấp hai chân thì hãy hạ xuống. Tiếp theo là nới lỏng hoặc tháo bỏ bất cứ thứ gì bó sát. Điều quan trọng nhất là quý vị phải xác định được và loại bỏ những thứ đang gây khó chịu cho quý vị, nếu có thể.
Những biểu hiện của bệnh tăng phản xạ tự phát bao gồm
Huyết áp cao (lớn hơn 200/100).
Đau đầu như búa bổ, mặt đỏ bừng.
Đổ mồ hôi nhiều hơn mức độ của bệnh lý tổn thương cột sống.
Nghẹt mũi, buồn nôn.
Mạch chậm, ít hơn 60 nhịp một phút.
Sởn gai ốc thấp hơn mức độ của bệnh lý tổn thương cột sống.
Nguyên nhân gây nên bệnh tăng phản xạ tự phát
Là do một sự kích thích thấp hơn mức độ thương tổn, thường liên quan tới chức năng của bàng quang và đại tràng. Trong số đó có những nguyên nhân sau:
Tức bàng quang, nhiễm trùng đường tiết niệu.
Ống thông đường tiểu bị tắc.
Túi đựng nước tiểu đầy tràn.
Đại tràng sưng phồng hoặc co thắt.
Táo bón/phân đóng chặt.
Trĩ hoặc nhiễm trùng hậu môn.
Da bị nhiễm trùng hoặc sưng tấy, các vết đứt, vết thâm, vết trầy.
Những điểm loét do áp lực tỳ (loét do tư thế nằm).
Móng mọc vào da.
Các vết bỏng (kể cả do cháy nắng, bỏng do nước nóng).
Quần áo chật hoặc hạn chế cử động.
Hoạt động tình dục.
Thống kinh.
Chuyển dạ và sinh con.
Những bệnh lý ở phần bụng (loét dạ dày, viêm ruột kết, viêm màng bụng).
Gãy xương.
Bệnh có thể ngăn ngừa được
Thường xuyên làm nhẹ áp lực khi ngồi, nằm trên giường/ghế.
Sử dụng kem chống nắng số 15, cẩn thận với nhiệt độ nước.
Nghiêm túc thực hiện theo chương trình tiêu hóa.
Giữ cho các ống thông tiểu sạch sẽ và thực hiện lịch biểu thông tiểu một cách chính xác.
Những gì diễn ra khi tăng phản xạ tự phát xảy ra?
Tăng phản xạ tự phát có nghĩa là một hoạt động quá mức của hệ thần kinh tự trị – một phần của hệ thống điều khiển những việc mà quý vị không phải bận tâm đến, ví dụ như nhịp tim, hô hấp, tiêu hóa, v.v. Tăng phản xạ tự phát có thể xảy ra khi cơ thể tiếp nhận một sự kích thích dưới mức tổn thương. Tình trạng kích thích gửi những xung nhịp thần kinh tới tủy sống, ở đó xung nhịp lan truyền tăng lên cho đến khi những xung nhịp bị chặn lại ở mức tổn thương.
Do các xung nhịp không thể lan truyền tới bộ não nên cơ chế phản xạ được kích hoạt làm gia tăng hoạt động của phần giao cảm của hệ thần kinh tự trị. Việc này gây nên các cơn co thắt và tình trạng hẹp các mạch máu làm tăng tăng huyết áp. Các điểm tiếp nhận thần kinh trong tim và mạch máu dò tìm thấy huyết áp tăng và gửi một tín hiệu tới bộ não.
Sau đó bộ não gửi tín hiệu đến, bộ não không thể gửi những tín hiệu dưới mức tổn thương do tình trạng thương tổn của tủy sống nên huyết áp không được điều chỉnh.
Thường thì người ta sử dụng thuốc để điều trị khi không thể xác nhận và loại bỏ tác nhân gây nên tình trạng khó chịu/kích tim, làm cho nhịp tim đập chậm lại và các mạch máu đang ở trên mức tổn thương giãn ra. Tuy nhiên thích - hoặc khi tình trạng kích thích vẫn diễn ra sau khi đã loại bỏ nguyên nhân nghi ngờ. Những tác nhân có lợi có thể gây nên kích thích bao gồm: Nitroglycerine, Clonidine, Hydralazine, Minipress, Catapres.
Sources: The American Veterans Be Lit (paralyzed Veterans of America), Spine Injury Association (Spinal Injuries Association), London, the Association of spinal cord injury (National Spinal Cord Injury Association), Project by from paralysis Miami / University of Miami School of Medicine.
Bài viết cùng chuyên mục
Liều insulin: mẹo tính tổng liều hàng ngày
Chỉ cần cộng tổng lượng insulin, mà bệnh nhân đang sử dụng, sau đó điều chỉnh dựa trên tình trạng ăn, mức độ nghiêm trọng bệnh và sử dụng steroid
Lão hóa miễn dịch: cách chúng ta chống lại để ngừa bệnh tật
Khả năng miễn dịch không chỉ suy yếu khi lớn tuổi, nó cũng trở nên mất cân bằng. Điều này ảnh hưởng đến hai nhánh của hệ thống miễn dịch "bẩm sinh" và "thích ứng" - trong mô hình kép của "sự phát triển miễn dịch".
Covid-19: tổn thương các cơ quan ngoài tim phổi
ACE2 được biểu hiện nhiều ở hệ tiêu hóa, thận, cơ xương, mạch máu, đặc biệt là ở màng đỉnh của tế bào biểu mô ống lượn gần, cho thấy thận là một mục tiêu khác của SARS-CoV-2.
Bệnh tim mạch: cholesterol trong chế độ ăn có thể không làm tăng nguy cơ
Chế độ ăn kiêng cholesterol, và trứng, thường không hỗ trợ các mối liên quan có ý nghĩa thống kê với nguy cơ mắc bệnh tim mạch
Đa xơ cứng (Multiple Sclerosis)
Những nguyên lý về nguyên nhân gây nên bệnh đa xơ cứng gồm có vai trò của sinh vật kiểu vi-rút, sự bất thường của các gen có trách nhiệm kiểm soát hệ thống miễn dịch, hoặc là sự kết hợp của cả hai.
Khuyến cáo mới về bệnh tiểu đường: so với hướng dẫn cũ hàng thập kỷ
Báo cáo gần đây ACP hoàn toàn mâu thuẫn với ADA và AACE, khuyến cáo hầu hết bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 2 nên nhắm đến các A1C cao hơn
Mồ hôi xung quanh âm đạo: điều gì gây ra và làm gì với nó
Mồ hôi thừa quanh vùng háng cũng có thể gây ngứa và đôi khi có thể dẫn đến nhiễm trùng, chẳng hạn như nhiễm khuẩn âm đạo và nhiễm nấm âm đạo
Bệnh tiểu đường: hướng dẫn tập thể dục an toàn
Nói chung, thời gian tốt nhất để tập thể dục là một đến ba giờ sau khi ăn, khi lượng đường trong máu có khả năng cao hơn
Phải làm gì khi bị tắc sữa
Trong bài viết này, chúng tôi xem xét các triệu chứng và nguyên nhân gây tắc nghẽn ống dẫn, biện pháp khắc phục tại nhà để thử và khi nào cần đi khám bác sĩ
Tại sao nước tiểu sẫm màu: nguyên nhân, chẩn đoán và phòng ngừa
Lý tưởng nhất là nước tiểu sẽ có màu vàng nhạt, điều này sẽ cho thấy đủ nước, nước tiểu tự nhiên có một số sắc tố màu vàng được gọi là urobilin hoặc urochrom
Virus corona: điều trị những người bị nhiễm bệnh
Virus corona mới là một loại virus, không nên sử dụng kháng sinh phòng ngừa hoặc điều trị, tuy nhiên, có thể dùng kháng sinh vì có thể đồng nhiễm vi khuẩn
Covid-19: thuốc chống kết tập tiểu cầu ở bệnh nhân không mắc bệnh trong mùa dịch
Trừ khi bệnh nhân được nhập viện để thực hiện một thủ thuật xâm lấn hoặc phẫu thuật, không có lý do gì để ngừng điều trị bằng thuốc chống đông máu đường uống. Việc đình chỉ vì những lý do này phải được thực hiện theo các khuyến nghị.
Vắc xin Covid-19: chống chỉ định và thận trọng (bao gồm cả dị ứng)
Tư vấn về dị ứng có thể hữu ích để đánh giá các phản ứng dị ứng nghi ngờ với vắc xin COVID-19 hoặc các thành phần của nó và đánh giá rủi ro của việc tiêm chủng COVID-19 trong tương lai.
Kháng thể chống Sars CoV-2: mức kháng thể của vắc xin Pfizer và AstraZeneca có thể giảm trong 2-3 tháng
Nghiên cứu của UCL Virus Watch cũng cho thấy mức độ kháng thể về cơ bản cao hơn đáng kể sau hai liều vắc xin Pfizer so với sau hai mũi tiêm phòng ngừa AstraZeneca, được gọi là Covishield ở Ấn Độ.
Kích thước vòng eo: dự đoán nguy cơ mất trí nhớ?
Những người có chu vi vòng eo, bằng hoặc cao hơn 90 cm đối với nam, và 85 cm đối với nữ, có nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ cao hơn
Kiểm soát huyết áp: vai trò không ngờ của nước
Mặc dù nước không làm tăng huyết áp đáng kể ở những đối tượng trẻ khỏe mạnh với các phản xạ baroreflexes còn nguyên vẹn, nhưng các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng nó làm tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm và co thắt mạch máu.
Hy vọng cho COVID-19: vắc xin của Nga đầy hứa hẹn và những phát hiện khác
Các nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu Dịch tễ học và Vi sinh vật học Gamaleya, ở Moscow, đã phát minh ra một loại vắc xin tạo ra phản ứng miễn dịch mạnh mẽ, không có tác dụng phụ nghiêm trọng ở người.
Rối loạn sử dụng rượu: có vấn đề khi uống?
Nhận thức rằng việc sử dụng rượu có thể gây ra vấn đề không dễ dàng xảy ra, uống rượu được xã hội chấp nhận ở hầu hết các nơi
Tuần mang thai: những điều cần biết
Tuần mang thai được nhóm thành ba tam cá nguyệt, mỗi người có các mốc y tế cho cả bà mẹ và em bé
Triệu chứng ngộ độc thủy ngân: những điều cần biết
Triệu chứng ngộ độc thủy ngân nguyên tố và bay hơi, thủy ngân hữu cơ, thủy ngân vô cơ, và ngộ độc thủy ngân dạng khác
Chứng hưng cảm sau đột quỵ: chẩn đoán và can thiệp
Các triệu chứng hưng cảm, bao gồm tâm trạng bực bội, và hoặc cáu kỉnh, giảm nhu cầu ngủ, tăng hoạt động theo mục tiêu, thiếu thận trọng
SARS-CoV-2: cách đột biến để thoát khỏi liên kết kháng thể
Mặc dù bài báo này chỉ ra cách SARS-CoV-2 có khả năng thoát khỏi các loại vắc-xin và phương pháp điều trị hiện có, nhưng đến thời điểm này không thể biết chính xác khi nào điều đó có thể xảy ra.
Đột quỵ: đã xác định được yếu tố nguy cơ di truyền
Một nhóm các nhà nghiên cứu Geisinger đã xác định một biến thể di truyền phổ biến là một yếu tố nguy cơ gây đột quỵ, đặc biệt là ở những bệnh nhân trên 65 tuổi.
Mỉm cười không nhất thiết có nghĩa là hạnh phúc
Người ta tin rằng mỉm cười có nghĩa là một người hạnh phúc, và nó thường xảy ra khi họ đang tham gia với một người hoặc một nhóm người khác
Hãy bắt đầu một chương trình tập thể dục
Nếu có vấn đề về tim hoặc nếu bị đau ngực trong khi tập luyện, hãy nói chuyện với bác sĩ trước khi bắt đầu một chế độ tập thể dục
