Nguyên nhân gây ngộ độc thủy ngân: những điều cần biết

2019-08-31 10:08 PM
Ngộ độc thủy ngân có thể được gây ra bởi nguyên tố, hơi, vô cơ và hữu cơ, ngộ độc có thể xảy ra do hít phải, nuốt phải hoặc tiếp xúc với da

Thủy ngân liên kết với các nhóm sulfhydryl trong nhiều enzyme và protein mô, và do đó gây ra thiệt hại trực tiếp cho các tế bào và chức năng của chúng. Thiệt hại này có thể rất nghiêm trọng và cuối cùng làm suy các hệ thống cơ quan như phổi, thận hoặc hệ thần kinh.

Bùng phát ngộ độc thủy ngân thường xảy ra khi có sự giải phóng thủy ngân công nghiệp hoặc methylmercury vào môi trường. Ví dụ kinh điển về thảm họa như vậy là sự ô nhiễm của Vịnh Minamata ở Nhật Bản, nơi thuật ngữ bệnh Minamata bắt nguồn. Các nghiên cứu từ khoảng năm 1956 đến 1960 cho thấy các triệu chứng bất thường (thần kinh) được tìm thấy ở những người trong khu vực này có thể bắt nguồn từ nước thải công nghiệp có chứa methylmercury. Hơn 2.200 người được chẩn đoán và hơn 1.700 người chết cuối cùng được cho là do độc tính của methylmercury. Thủy ngân đã được sử dụng trong các loại kem bôi da. Vấn đề kem gần đây nhất được xác định vào năm 1996 từ Mexico có tên là Crèma de Belleza-Manning.

Ngộ độc thủy ngân có thể được gây ra bởi tất cả các dạng thủy ngân (nguyên tố, hơi, vô cơ và hữu cơ). Ngộ độc của con người có thể xảy ra do hít phải, nuốt phải hoặc tiếp xúc với da với các dạng thủy ngân khác nhau.

Ngộ độc thủy ngân hít phải

Ngộ độc hít phải xảy ra khi thủy ngân nguyên tố bị bay hơi, thường là trong không gian kín trong nhà, khi các sản phẩm như nhiệt kế, thiết bị y tế, van hoặc các sản phẩm khác bị vỡ và thủy ngân nguyên tố thoát ra. Bất kỳ sự gia nhiệt của nguyên tố thủy ngân đều làm tăng tốc độ hóa hơi (sự hóa hơi chậm xảy ra ở nhiệt độ phòng) làm xấu đi sự phơi nhiễm qua đường hô hấp.

Ngộ độc thủy ngân nuốt phải và tiếp xúc với da

Nuốt phải là một trong những cách thường xuyên nhất mà mọi người bị ngộ độc thủy ngân; và thủy ngân thường được ăn sâu nhất ở dạng thủy ngân hữu cơ methylmercury. Methylmercury (cũng được gọi là methyl thủy ngân, monomethylmercury hoặc cation monomethylmercuric) được tạo ra bởi hai quá trình chung; như một sản phẩm công nghiệp sản xuất và sản xuất vi sinh khi thủy ngân nguyên tố và hóa hơi cuối cùng đến nước. Thật không may, methylmercury xâm nhập vào các mô của cá (và động vật có vỏ). Càng nhiều methylmercury có trong môi trường, nồng độ trong mô cá càng cao. Methylmercury không được loại bỏ khỏi mô cá; cá càng già và càng lớn, đặc biệt là những loài cá ăn cá khác (ví dụ cá mập, cá cờ, cá ngừ và cá marlin) thì nồng độ methylmercury có thể cao hơn trong mô của chúng.

Thủy ngân vô cơ (ví dụ, các hợp chất thủy ngân trong pin) thường xuyên nhất gây ra độc tính cho con người khi ăn hoặc hấp phụ vào da. Nhiều hợp chất thủy ngân vô cơ là caustic (mô hòa tan).

Các triệu chứng ngộ độc thủy ngân có thể rất nhiều và có thể xảy ra nhanh chóng hoặc trong thời gian dài. Nói chung, các triệu chứng xảy ra và tiến triển càng nhanh thì liều thủy ngân gặp phải càng cao. Tiếp xúc với các dạng thủy ngân khác nhau có thể dẫn đến một số triệu chứng tương tự và một số triệu chứng khác nhau. Các triệu chứng có thể được nhóm thành ba loại dựa trên dạng độc tính thủy ngân: 1) thủy ngân nguyên tố và hóa hơi, 2) thủy ngân hữu cơ và 3) thủy ngân vô cơ.

Bài mới nhất

Thuốc kích thích hoặc ức chế neuron hậu hạch giao cảm và phó giao cảm

Dược lý của hệ thần kinh tự chủ

Kiểm soát hệ thần kinh tự chủ của hành cầu và não giữa

Báo động hoặc phản ứng stress của hệ thần kinh giao cảm

Kích thích riêng và đồng loạt bởi hệ giao cảm và phó giao cảm

Các phản xạ tự chủ của hệ thần kinh

Sự nhạy cảm quá mức của các cơ quan chịu sự chi phối của hệ giao cảm và phó giao cảm sau khi loại bỏ dây thần kinh

Kích thích và trương lực của hệ giao cảm và phó giao cảm

Tác động của bệnh ngoài da đối với bệnh nhân

Hỏi về những triệu chứng bệnh của da trên lâm sàng

Hiểu cấu trúc và sinh lý học của da khi khám lâm sàng

Quan sát khi thăm khám bệnh về da

Lịch sử nghề nghiệp và môi trường khi hỏi bệnh

Đánh giá diễn biến bệnh hiện tại và các triệu chứng

Các kỹ thuật hỏi bệnh khai thác bệnh sử cơ bản

Các bước hỏi bệnh khi thăm khám lâm sàng

Phát hiện triệu chứng và dấu hiệu qua hỏi bệnh

Nguyên tắc cơ bản của hỏi bệnh khai thác bệnh sử khi khám bệnh

Mục tiêu của khám bệnh nhân

Thực hiện kiểm soát nhiễm trùng khi điều trị bệnh nhân

Các kỹ năng cần thiết khi khám lâm sàng

Chức năng tủy thượng thận: giải phóng adrenalin và noradrenalin

Kích thích hệ giao cảm và phó giao cảm gây kích thích và ức chế

Các receptor ở các cơ quan đích hệ giao cảm và phó giao cảm

Bài tiết acetylcholine hoặc noradrenalin của các sợi thần kinh giao cảm và phó giao cảm