Đa xơ cứng (Multiple Sclerosis)

2012-11-19 08:17 PM
Những nguyên lý về nguyên nhân gây nên bệnh đa xơ cứng gồm có vai trò của sinh vật kiểu vi-rút, sự bất thường của các gen có trách nhiệm kiểm soát hệ thống miễn dịch, hoặc là sự kết hợp của cả hai.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Đa xơ cứng (Multiple Sclerosis - MS) là một chứng rối loạn não bộ và tủy sống với chức năng thần kinh bị giảm sút kết hợp với việc hình thành sẹo trên lớp phủ ngoài của các tế bào thần kinh. Trong nhiều trường hợp, các triệu chứng của đa xơ cứng bao gồm nhiều giai đoạn tê liệt khác nhau.

Bệnh đa xơ cứng có những giai đoạn viêm lặp đi lặp lại phá hủy màng bọc myelin, một lớp bọc ngoài sợi thần kinh, để lại nhiều vùng mô sẹo (sự hóa cứng) dọc theo lớp phủ ngoài của các tế bào thần kinh. Tình trạng này dẫn đến việc làm chậm hoặc tắc đường truyền xung nhịp thần kinh ở vùng đó.

Đa xơ cứng thường diễn tiến với những giai đoạn kết thúc trong vài ngày, vài tuần, hoặc vài tháng luân phiên thay đổi theo số lần giảm hoặc không có triệu chứng (sự thuyên giảm). Tình trạng tái phát (sự phát lại) là phổ biến.

Hiện người ta vẫn chưa biết nguyên nhân chính xác của căn bệnh đa xơ cứng. Các cuộc nghiên cứu cho thấy rằng bệnh cũng có thể do yếu tố môi trường mang lại. Tỷ lệ mắc phải căn bệnh này ở khu vực Bắc Âu, Miền Bắc Hoa Kỳ, Bắc Úc, và Niu Zilân cao hơn so với các vùng khác trên thế giới. Tình trạng rối loạn này cũng có xu hướng xuất phát từ gia đình.

Người ta cho rằng đa xơ cứng là một loại phản ứng miễn dịch bất thường có hướng chống lại hệ thần kinh trung ương (Central Nervous System - CNS). Loại kháng nguyên chính xác khiến các tế bào miễn nhiễm trở thành mục tiêu bị tấn công vẫn còn là một ẩn số. Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã xác định được những tế bào miễn nhiễm nào đang làm gia tăng sự tấn công, làm thế nào mà chúng bị kích hoạt để tấn công, và một số trong số các điểm hay các cơ quan nhận cảm, trên các tế bào tấn công dường như để lôi kéo myelin bắt đầu quá trình phá hủy.

Những nguyên lý về nguyên nhân gây nên bệnh đa xơ cứng gồm có vai trò của sinh vật kiểu vi-rút, sự bất thường của các gen có trách nhiệm kiểm soát hệ thống miễn dịch, hoặc là sự kết hợp của cả hai.

Cứ một 1000 người thì gần có 1 người mắc bệnh đa xơ cứng. Bệnh này thường xảy ra ở phụ nữ nhiều hơn ở nam giới. Tình trạng rối loạn bắt đầu phổ biến nhất từ độ tuổi từ 20 đến 40 tuổi nhưng nó cũng xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào.

Những triệu chứng của đa xơ cứng bao gồm suy yếu ở một hoặc nhiều chi, liệt một hoặc nhiều chi, run rẩy ở một hoặc nhiều chi, co thắt cơ (hiện tượng co thắt không kiểm soát được ở các nhóm cơ), cử động khác thường, tê liệt, tê buốt, đau đớn, mất thị lực, mất khả năng phối hợp động tác và cân bằng tư thế, mất trí nhớ hoặc không có khả năng phán đoán và mệt mỏi.

Các triệu chứng có thể khác nhau tùy thuộc vào từng đợt tấn công. Người bệnh có thể bị sốt hoặc các cuộc tấn công trở nên trầm trọng hơn khi tắm nước nóng, ra ngoài ánh nắng và bị căng thẳng.

Tình trạng mắc bệnh đa xơ cứng không ai giống ai cả về mức độ trầm trọng và diễn tiến của bệnh. Một số người có một vài lần xuất hiện bệnh và bị mất chức năng chút ít. Những người khác gặp phải tình trạng đa xơ cứng "tái phát-thuyên giảm" điều đó có nghĩa là họ bị hàng loạt các lần bệnh xuất hiện (tình trạng trầm trọng) mà tiếp theo sau là những quãng thời gian hồi phục (thuyên giảm).

Một số người bệnh lại gặp phải chứng bệnh được gọi là "diễn tiến" mà nó có thể là bệnh "chính yếu" hoặc có thể là "thứ yếu". Những người mắc phải bệnh đa xơ cứng chính yếu-diễn tiến thì tình trạng bệnh càng ngày càng xấu đi (hay còn gọi là tiến triển) và chỉ có chút ít cơ hội hồi phục. Bệnh đa xơ cứng thứ yếu-diễn tiến bắt đầu bằng một loạt các đợt tái phát và hồi phục nhưng vẫn diễn tiến đều đều theo thời gian bằng tình trạng tiếp tục xấu đi. Đa số người mắc bệnh đa xơ cứng gặp phải tình trạng tái phát-thuyên giảm hoặc thứ yếu-diễn tiến.

Hiện chưa có phương thức chữa trị bệnh đa xơ cứng. Có những liệu pháp mới mang đến hứa hẹn cho người bệnh vì nó có thể giảm mức độ trầm trọng và làm chậm diễn tiến của bệnh. Quá trình điều trị được thực hiện với mục tiêu kiểm soát được các triệu chứng và duy trì được chức năng để mang đến chất lượng cuộc sống ở mức tối đa.

Hiện giờ những người mắc bệnh có tình trạng tái phát-thuyên giảm được thực hiện liệu pháp điều chỉnh miễn dịch bằng việc tiêm thuốc dưới da hoặc vào cơ một lần hoặc vài lần mỗi tuần. Thuốc được sử dụng có thể dưới dạng interferon (ví dụ như Avonex hoặc Betaseron) hoặc một loại thuốc khác được gọi là glatiramer acetate (Copaxone). Tác dụng của những loại thuốc này tương tự như nhau và việc quyết định loại thuốc nào được sử dụng phải tùy thuộc vào bệnh sử về phản ứng phụ của mỗi người bệnh.

Các loại Steroid cũng thường được sử dụng để làm giảm mức độ trầm trọng của một cuộc tấn công. Những loại thuốc điều trị đa xơ cứng thường gặp khác gồm có baclofen, tizanidine hoặc diazepam có thể được sử dụng để làm giảm sự co thắt của cơ. Các thuốc chống liệt rung có tác dụng cholinergic có thể giúp làm giảm những vấn đề về tiết niệu. Các loại thuốc chống suy nhược có thể giúp người bệnh chống lại những triệu chứng về tâm lý hoặc hành vi. Thuốc Amantadine có thể được sử dụng để chống sự mệt mỏi.

Ngoài ra những liệu pháp vật lý, ngôn ngữ hoặc nghề nghiệp có thể giúp cải thiện quan điểm của người bệnh, làm giảm tâm lý chán nản, tối đa hóa chức năng và nâng cao những kỹ năng đối phó. Một chương trình tập luyện được lên kế hoạch cụ thể ngay từ khi mắc bệnh đa xơ cứng sẽ giúp duy trì được trương lực cơ.

Cần phải có những cố gắng để tránh tình trạng mệt mỏi, căng thẳng, suy giảm về thể chất, những cực đoan về nhiệt độ, và tình trạng ốm yếu để giảm bớt những yếu tố làm xuất hiện các đợt đa xơ cứng.

Kết quả được mong đợi thường thay đổi và khó nói trước. Mặc dù tình trạng rối loạn này là mạn tính và không thể cứu chữa, nhưng tuổi thọ trung bình của người bệnh có thể bằng hoặc gần bằng những người không mắc bệnh, với khoảng thời gian sống phổ biến là 35 năm trở lên tính từ khi được chẩn đoán. Phần lớn những người mắc bệnh đa xơ cứng tiếp tục đi lại và làm việc với tình trạng tàn tật rất nhỏ trong khoảng 20 năm trở lên.

Sources: National Institute of neurological Disorders and Stroke (National Institute of Neurological Disorders and Stroke - NINDS), the National Multiple sclerosis (National Multiple Sclerosis Society), The MS Center.

Bài viết cùng chuyên mục

Vắc xin Covid-19: biến chứng viêm cơ tim sau khi tiêm chủng

Trong một loạt nghiên cứu, bảy nam giới từ 14 đến 19 tuổi bị đau ngực trong vòng bốn ngày sau khi họ dùng liều thứ hai BNTb162b và có ST chênh lên trên điện tâm đồ và nồng độ troponin tăng cao.

Virus corona: là virus gì và có nguy hiểm không?

Virus corona mới là một chủng coronavirus chưa được xác định trước đây ở người. Loại coronavirus mới, hiện được gọi là 2019 nCoV, trước đây chưa được phát hiện

Hội chứng sau viêm tủy xám (Bại liệt) (Post-Polio Syndrome)

Những người đã chống chịu qua được bệnh viêm tủy xám nên lắng nghe cơ thể của mình. Tránh những hoạt động gây đau nhức – đây là một dấu hiệu cảnh báo.

Dịch truyền tĩnh mạch: chọn giải pháp dược lý phù hợp

Các dung dịch điện giải ít tốn kém hơn các dung dịch plasma, được vô trùng, và nếu chưa mở, không đóng vai trò là nguồn lây nhiễm

Quản lý quá mức bệnh tiểu đường: làm thế nào để biết

Trong khi một người có thể dùng thuốc tiểu đường uống, hoặc tiêm insulin để điều trị bệnh tiểu đường, cách thức hoạt động của những loại thuốc này rất khác nhau

Diễn biến lâm sàng COVID 19

Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh nặng vẫn chưa rõ ràng, mặc dù bệnh nhân lớn tuổi và những người mắc bệnh mãn tính có thể có nguy cơ mắc bệnh nặng cao hơn

Bệnh thận mãn tính: sống với bệnh thận giai đoạn một

Không có cách chữa trị bệnh thận, nhưng có thể ngăn chặn tiến triển của nó hoặc ít nhất là làm chậm thiệt hại, việc điều trị đúng và thay đổi lối sống có thể giúp giữ cho một người và thận của họ khỏe mạnh lâu hơn

Giảm bớt hội chứng chuyển hóa: nhịn ăn gián đoạn có thể hữu ích

Nghiên cứu đã xem xét, việc nhịn ăn gián đoạn, như một biện pháp giảm cân, và kiểm soát lượng đường, và huyết áp, cho những người mắc bệnh

Chứng mất trí nhớ sau đột quỵ: chẩn đoán và can thiệp

Bệnh nhân mắc chứng mất trí nhớ sau đột quỵ, nên được theo dõi hàng tháng, đánh giá lại nhận thức, trầm cảm và sàng lọc các triệu chứng loạn thần

Khuôn mặt già nua: tại sao khuôn mặt già đi và những gì có thể làm

Với tuổi tác, chất béo sẽ mất khối lượng, vón cục và dịch chuyển xuống dưới, do đó, làn da mịn màng và căng mọng bị lỏng lẻo và chảy xệ

Thử thai: những điều cần biết

Mang thai được chẩn đoán bằng cách đo mức độ gonadotropin màng đệm của người, còn được gọi là hormone thai kỳ, hCG được sản xuất khi trứng được thụ tinh

Đau răng: nguyên nhân và những điều cần biết

Không bao giờ nên bỏ qua đau răng, đau răng do sâu răng có thể trở nên tồi tệ hơn nếu không được điều trị, đau răng thường không đe dọa đến tính mạng

Khi mang thai: cách trị cảm lạnh cảm cúm

Nhiều loại thuốc có thể được sử dụng trong khi mang thai, vì vậy điều trị cảm lạnh hoặc cúm trong khi mang thai không phải là căng thẳng

Màu sắc của vết bầm tím có nghĩa là gì?

Bầm tím có nhiều màu khi cơ thể hoạt động để tự chữa lành vết thương, nó là bình thường khi một vết bầm tím thay đổi màu sắc theo thời gian

Vắc xin Covid-19: tiêm chủng cho trẻ em không phải là ưu tiên hàng đầu

Khi chúng ta ở một nơi thực sự khó khăn, như chúng tôi hiện tại, nơi mà nguồn cung cấp vắc-xin không đủ cho tất cả mọi người trên thế giới, việc tiêm chủng cho trẻ em không phải là ưu tiên hàng đầu ngay bây giờ.

JNC 7: hướng dẫn điều trị tăng huyết áp, mục tiêu và khuyến nghị

Báo cáo lần thứ 7 về dự phòng, phát hiện, đánh giá, và điều trị tăng huyết áp JNC 7 đã được công bố tháng 3 năm 2003.

Thuốc đông y: có thể có tác dụng phụ nguy hiểm

Thuốc đông y có thể gây tổn thương thận, hoặc gan, và đôi khi bị pha trộn với steroid, thuốc trừ sâu, kháng sinh hoặc kim loại có hại

Sars CoV-2: đáp ứng miễn dịch sau nhiễm trùng

Các kháng thể đặc hiệu với SARS-CoV-2 và các đáp ứng qua trung gian tế bào được tạo ra sau khi nhiễm trùng. Bằng chứng cho thấy một số phản ứng này có tính chất bảo vệ và có thể được phát hiện trong ít nhất một năm sau khi nhiễm bệnh.

Giảm ý thức: nguyên nhân và những điều cần biết

Khi ý thức bị giảm, khả năng tỉnh táo, nhận thức và định hướng bị suy giảm, ý thức suy yếu có thể là một cấp cứu y tế

Vi rút corona mới 2019: đánh giá và tư vấn

Tất cả các bệnh nhân nghi ngờ 2019 nCoV, được đưa vào một bệnh viện, thập và phân tích dữ liệu về bệnh nhân nhiễm trùng 2019 nCoV được xác nhận trong phòng xét nghiệm

Covid-19: thông khí cơ học cho bệnh nhân trong hồi sức cấp cứu

Cài đặt máy thở ban đầu với PEEP thấp hơn và thể tích lưu thông cao hơn so với ARDS nặng điển hình có thể được điều chỉnh với các mục tiêu như được chỉ định, với PEEP là 8 cm H2O.

Bệnh tim bẩm sinh: thông tim chẩn đoán

Thông tim rất quan trọng, đối với các phép đo chính xác, và thiết lập các chẩn đoán, sự hiện diện của các bất thường huyết động cùng tồn tại, ở bệnh nhân mắc bệnh

Glucocorticosteroid ở bệnh nhân Covid-19: quản lý đường huyết ở những người bị và không bị tiểu đường

Rối loạn chuyển hóa glucose do liệu pháp glucocorticoid liều cao, COVID-19 gây ra kháng insulin và suy giảm sản xuất insulin liên quan đến COVID-19 có thể dẫn đến tăng đường huyết đáng kể, tăng áp lực thẩm thấu và toan ceton.

Chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống: ý nghĩa lâm sàng giá trị kết quả

MRI cột sống, có thể tìm thấy những thay đổi, ở cột sống và trong các mô khác, nó cũng có thể tìm thấy các vấn đề như nhiễm trùng, hoặc khối u

Đau lưng: điều gì gây ra cơn đau này?

Đau lưng dưới có thể liên kết với xương sống thắt lưng, đĩa giữa đốt sống, dây chằng quanh cột sống và đĩa, tủy sống và dây thần kinh, cơ lưng dưới, bụng và các cơ quan nội