Bệnh chấy rận
Nhiễm rận ở mu rất ít thấy, đặc biệt dễ gặp ở những người lông rậm; thậm chí có thể tìm thấy rận ở lông mi và ở da đầu.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán
Ngứà kèm theo tróc da.
Trứng trên thân tóc; rận trên da hoặc quần áo.
Đôi khi có các vết màu xanh da trời (maculae ceruleae) trên mặt đùi trong hoặc ở bụng dưới trong các trường họp nhiễm rận mu.
Nhận định chung
Chấy rận là bệnh nhiễm động vật ký sinh trên da đầu, thân hoặc vùng mu. Nó thường gặp ở những người sống ở khu dân cư quá đông với các phưong tiện vệ sinh không đầy đủ, tuy nhiên rận mu có thể truyền qua quan hệ tình dục. Chấy rận trên đậu có thể lây do dùng chung mù hoặc lược và có thể lây lan rất nhanh trong nhóm trẻ ở trường học
Có 3 loại khác nhau: (1) rận mu, do Pthirus pubis gây ra (rận mu) (2) rận thân, do Pediculus humanus corporis gây ra (rận thân thể); và (3) chấy trên đầu, do Pediculus humanus capitis gây ra (chấy đầu).
Chấy rận trên đầu và trên thân có diện mạo tương tự nhau và dài 3 - 4mm. Rận trên thân thỉnh thoảng mới tìm thấy trên thân thể vì côn trùng chỉ đi trên da để kiếm ăn và cần phải tìm chúng ở các đường nối của đồ lót. Sốt chiến hào, sốt tái phát và sốt rickettsia lây truyền qua rận trên người ở những nước mà ở đó các bệnh này là đặc hữu.
Lâm sàng
Nhiễm rận trên thân thể có thể gây ngứa mạnh và gãi có thể gây tróc da sâu ở những vùng bị ngứa. Trong một số trường họp, chỉ có biểu hiện ngứa với một số chỗ tróc da. Viêm da mủ có thể là dấu hiệu biểu hiện của bất kỳ dạng nào trong các bệnh nhiễm loại này. Chấy trên đầu có thể tìm thấy trên da đầu hoặc biểu hiện thành các ổ trứng nhỏ giống một cái nụ liễu dạng đuôi sóc ở trên tóc gần da đầu. Dễ thấy nhất là ở trên tai và ở gáy. Rận trên thân thể đẻ trứng dễ nhìn thấy trên lông mịn trên cơ thể. Nhiễm rận ở mu rất ít thấy, đặc biệt dễ gặp ở những người lông rậm; thậm chí có thể tìm thấy rận ở lông mi và ở da đầu.
Chẩn đoán phân biệt
Cần phải phân biệt chấy ở đầu với bệnh viêm da bã nhờn, nhiễm rận trên cơ thể với ghẻ, và nhiêm rận ở mu với ngứa vùng hậu môn sinh dục và eczema.
Điều trị
Đối với tất cả các dạng chấy rận, người ta rất hay dùng lindan (Kwell, Scabene). Bôi một lớp mỏng lên vùng bị nhiễm và các vùng có lông lân cận. Rửa sạch kỹ lưỡng sau 12 tiếng. Những trứng rận còn sót lại có thể lấy đi bằng chải lược bí. Cần phải điều trị cho người có tiếp xúc tình dục.
Kem rửa permethrin 1% là một thuốc bôi tại chỗ diệt chấy rận và trứng trong điều trị chấy trên đầu và trứng. Bôi lên tóc và da đầu rồi để 10 phút trước khi gội kỹ bằng nước sạch, cần xử lý mỗi tuần một lần. Kem permethrin 1% có hiệu quả hon pyrethrin đồng vận, các sản phẩm OTC dùng không pha loãng bôi cho tới khi vùng bị nhiễm ướt hết. Sau 10 phút, rửa sạch vùng bôi thuốc bằng nước ấm và xà phòng rồi để khô. Trứng có thể điều trị như trên. Đối với lông mi bôi petrolatum dày, hai lần một ngày trong 8 ngày, trứng còn lại có thể búng hết sau đó.
Bài viết cùng chuyên mục
Viêm da dạng herpes
Bệnh nhân có viêm ruột nhạy cảm với gluten, nhưng đôi với phần lớn bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.
Bệnh Bowen và bệnh Paget
Bệnh tiến triển lành tính, nhưng khi những thương tổn này phát triển thành ung thư tế bào gai xâm lấn, thì cắt bỏ hoặc chỉ định phương pháp điều trị khác.
Chai chân: chẩn đoán và điều trị
Điều trị bao gồm sửa lại cho đúng các bất thường cơ học gây ra ma xát và tỳ đè. Phải đi giày vừa và điều chỉnh lại các biến dạng chỉnh hình.
Nấm tóc: chẩn đoán và điều trị
Hầu hết các trường hợp nhiễm nấm đều không có triệu chứng. Các thương tổn giống chốc và kerion có thể nổi bật bằng sự đau đớn. Cần khám tất cả các trương hợp có vảy mà không có viêm.
Những hình thái bất thường của móng
Điều quan trọng là phải, phân biệt được giữa rối loạn móng do bẩm sinh, hay di truyền với bệnh móng do sang chấn, và môi trường.
Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da
Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.
Loét cẳng chân thứ phát sau thiểu năng tĩnh mạch
Bệnh nhân thường có một tiền sử lâu dài bị thiểu năng tĩnh mạch. Viêm da thường xuất hiện sau phù nề mạn tính, và thường rất ngứa.
Bệnh mày đay và phù mạch
Bệnh mày đay có thể được gây nên bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Cơ chế bệnh sinh có thể do cơ chế miễn dịch hoặc không do cơ chế miễn dịch.
Viêm tế bào: chẩn đoán và điều trị
Chẩn đoán phân biệt bao gồm viêm da tiếp xúc cấp ở một chi gây đỏ da, mụn nước và phù như trong viêm mô tế bào nhưng ngứa thay thế bằng triệu chứng đau.
Chàm thể tạng: bệnh da có vảy
Chàm thể tạng có hình thái và tỉ lệ khác nhau ở lứa tuổi khác nhau, vì hầu hết bệnh nhân chàm thể tạng có da khô và bong vảy ở một vài thời điểm nên bệnh này được thảo luận ở bệnh da có vảy.
Chốc: thương tổn ướt có vảy
Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn lâm sàng là các dát, mụn nước, bọng nước, mụn mủ, và vảy tiết màu vàng sáp ong dính. Khi cậy bỏ vảy sẽ để lại vết trợt màu đỏ.
Tàn nhang và nốt ruồi, dày sừng da mỡ
Những thương tổn này thường tăng số lượng tế bào sắc tố, và chúng không bị nhạt màu đi khi không còn tiếp xúc với ánh nắng, chúng được coi như tất cả các thường tổn sắc tố khác.
Ban nấm da: dị ứng hoặc nhạy cảm với nấm
Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn cơ bản là từng nhóm mụn nước, thường khu trú ở mô cái và mô út. Đôi khi thương tổn khu trú ở mu bàn tay thậm chí có thể ở toàn thân.
Rôm ban nhiệt
Sử dụng những chế phẩm kháng sinh như chlorhexidin trước khi tiếp xúc với nóng ẩm có thể tránh được rôm. Những người dễ bị rôm nên tránh tiếp xúc với môi trường nóng ẩm.
Viêm da bong vảy: chứng đỏ da tróc vảy
Các triệu chứng có thể gồm ngứa, mệt, ớn lạnh, sốt và sút cân. Rét run có thể nổi bật. Bong vảy da có thể toàn thân hoặc rộng và đôi khi cả rụng lông tóc và móng.
Rụng tóc hói: chẩn đoán và điều trị
Rụng tóc do sẹo thường là rụng tóc vĩnh viễn và không thay đổi được. Không có thuốc nào có thể chữa được trừ khi phẫu thuật cấy tóc.
Bệnh nấm móng
Bệnh nấm móng thường khó điều trị vì đòi hỏi thời gian điều trị dài và bệnh hay tái phát. Nấm móng tay đáp ứng điều trị tốt hơn nấm móng chân.
Nấm kẽ: chẩn đoán và điều trị
Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.
Ghẻ: chẩn đoán và điều trị
Các tổn thương đặc trưng có thể gặp ở núm vú phụ nữ và như là các mụn nước có thể thấy ở mông. Viêm da mủ thường là dấu hiệu biểu hiện của bệnh.
Ngứa: chẩn đoán và điều trị
Có nguyên nhân thông thường nhất của bệnh ngứa liên kết với bệnh toàn thân là tăng ure huyết liên quan đến bệnh tán máu.
Liken phẳng: chẩn đoán và điều trị
Một dạng đặc biệt của liken phẳng là các dạng trợt. Trên lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân nó có thể làm mất khả năng hoạt động.
Một số bệnh da có bọng nước
Các bọng nước xuất hiện đầu tiên ở vùng quanh rốn và có thể có các mảng hoặc các nốt đỏ, mụn nước và bọng nước lớn.
Hồng ban ly tâm mãn tính
Ở trung tâm thương tổn nơi bị cắn thì lành, để lại một viền đỏ, nó cũng có thể nổi lên, tạo mụn nước hoặc hoại tử.
Viêm quầng: chẩn đoán và điều trị
Thương tổn không bao giờ hóa mủ và hoại tử và khi khỏi không để lại sẹo. Bệnh có thể biến chứng gây rách da tạo cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập.
Sarcoma Kaposi: chẩn đoán và điều trị
Các tổn thương sarcoma Kaposi ở nhóm bệnh nhân này thường kèm theo thương tổn ở phổi và đường dạ dày ruột cũng như da.
