Ung thư tế bào đáy

2016-07-04 10:41 AM

Một số ít tổn thương có thể loét và gây một sự phá hủy lớn, cuối cùng xâm nhập các cấu trúc sống và hiếm khi xâm nhập vào não, gây tử vong.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Ung thư tế bào đáy ngày càng trở nên thông thường, đặc biệt là ở những người da trắng vào độ tuổi 20 - 30. Ung thư tế bào đáy gặp ở hầu hết các vùng da tiếp xúc với ánh nắng. Biểu hiện thường gặp nhất là các sẩn hoặc u (ung thư tế bào đáy) có thể có vảy ở tâm hoặc bị trợt (dạng nốt loét). Đôi khi các u có màu nâu xám hoặc có các chấm sắc tố (ung thư tế bào đáy sắc tố). Các nơ vi trung bì không sắc tố ở người da trắng lớn tuổi có thể giống ung thư tế bào đáy. Các tổn thương này phát triển chậm, thường đạt đường kính 1 - 2cm sau nhiều năm sinh trường. Nó có diện mạo như “sáp ngọc trai” với các mao mạch giãn dễ thấy mặc dù các tổn thương này cũng có thể có ở vùng da “bình thường”. Tính chất trong mờ hoặc màu ngọc trai của các tổn thương này chính là triệu chứng xác định nhất để chẩn đoán và khi da bị căng đặc điểm này có giá trị nhất. Dạng ít gặp hơn là dạng tổn thương cứng bì hay dạng tổn thương giông vết sẹo. Những dạng này hiếm, giảm sắc tố, các mảng hơi dày lên. Các tế bào đáy có thể xuất hiện màu hơi đỏ, các mảng hoi sáng (ung thư tế bào đáy bề mặt) thường là ở lưng.

Các bác sĩ lâm sàng cần phải kiểm tra da hàng ngày, tìm kiếm các vết sưng. Các đốm lớn và các tổn thương có vảy. Khi kiểm tra vùng mặt, phải quan sát mép mí mắt và giữa khoé mắt, mũi và nếp gấp cánh mũi, môi và vùng xung quanh và sau tai. Trong khi hầu như không bao giờ có di căn, liệu pháp điều trị ung thư tế bào đáy có thể gây ra các biến dạng thẩm mỹ ở các vùng này, đặc biệt là các tổn thương điều trị không đúng cách hoặc các tổn thương tái phát. Một số ít tổn thương có thể loét và gây một sự phá hủy lớn, cuối cùng xâm nhập các cấu trúc sống và hiếm khi xâm nhập vào não, gây tử vong. Ung thư tế bào đáy ở khoé mắt đặc biệt nguy hiểm. Các tổn thương nghi ngờ là ung thư tế bào đáy cần phải được sinh thiết bằng dao lam hoặc dao sinh thiết. Sau đó liệu pháp điều trị nhằm mục đích trừ bệnh tận gốc với biến dạng thẩm mỹ tối thiểu, thường cắt và khâu có tỷ lệ táí phát là 5 - 10%. Kỹ thuật cũ ba kỳ, dùng thìa nạo và làm khô bằng điện có tỷ lệ tái phát cao hơn, phụ thuộc vào kỹ năng của bác sĩ phẫu thuật và thường lchông tối ưu đối với điều trị các tổn thương ở quanh mặt, mủi và tai. Sau 4 - 6 tuần lành vết mổ sẽ để lại sẹo quá sản, giảm sắc tố đồng thời phình to. Liệu pháp lạnh có thể cho tỷ lệ chữa khỏi tốt, nhưng thời gian lành bệnh lâu. Liệu pháp tia X có hiệu quả nhưng các khối u tái phát sau trị liệu khó điều trị hơn và trầm trọng hơn. Phẫu thuật MOHS là gồm cắt khối u, sau đó đánh dấu bờ tổn thương rồi ngay lập tức làm lạnh mảng thương tổn, kiểm tra giải phẫu bệnh và cắt lại vùng có u, cuối cùng đống vết thương. Phương pháp này cho tỷ lệ chữa khỏi cao nhất (98%) và phần mô bị mất đi là ít nhất. Đây là liệu pháp thích hợp đối với điều trị các khối u ở mí mắt, mũi và các tổn thương tái phát hoặc ở những nơi mà việc cắt mổ đòi hòi đảm bảo thẩm mỹ nhưng liệu pháp này rất tốn kém. Việc tiêm tại chỗ interferon nhiều lần chữa khỏi tới 80% các thương tổn u, thấp hơn tỷ lệ khỏi bằng liệu pháp cắt bỏ. Đây là một lĩnh vực thú vị đối với nghiên cứu sâu hơn. Cần phải tránh phơi nang để giảm khả năng bị bệnh mới và bệnh nhân phải theo dõi cứ 6 - 12 tháng một lần để tìm các tổn thương mới hay tổn thương tái phát.

Bài viết cùng chuyên mục

Ngứa: chẩn đoán và điều trị

Có nguyên nhân thông thường nhất của bệnh ngứa liên kết với bệnh toàn thân là tăng ure huyết liên quan đến bệnh tán máu.

Nấm tóc: chẩn đoán và điều trị

Hầu hết các trường hợp nhiễm nấm đều không có triệu chứng. Các thương tổn giống chốc và kerion có thể nổi bật bằng sự đau đớn. Cần khám tất cả các trương hợp có vảy mà không có viêm.

Bệnh Zona: chẩn đoán và điều trị

Bệnh zona là một bệnh da có bọng nước cấp tính do virus mà virus có hình thái giống như virus thủy đậu. Bệnh thường gặp ở người lớn. Hầu hết bệnh nhân chỉ bị zona một lần.

Ghẻ: chẩn đoán và điều trị

Các tổn thương đặc trưng có thể gặp ở núm vú phụ nữ và như là các mụn nước có thể thấy ở mông. Viêm da mủ thường là dấu hiệu biểu hiện của bệnh.

Bớt bẩm sinh, bớt loạn sản, bớt xanh

Một lần nữa, ta cần nhấn mạnh mục tiêu của các bác sĩ không chuyên khoa là xác định được các bớt không bình thường chứ không cần thiết phải xác định đây là loại bớt gì.

Bệnh nấm móng

Bệnh nấm móng thường khó điều trị vì đòi hỏi thời gian điều trị dài và bệnh hay tái phát. Nấm móng tay đáp ứng điều trị tốt hơn nấm móng chân.

Bệnh Pemphigus: chẩn đoán và điều trị

Các tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở các màng niêm mạc miệng, và những tổn thương này nhanh chóng trở nên bị trợt da.

Rụng tóc hói: chẩn đoán và điều trị

Rụng tóc do sẹo thường là rụng tóc vĩnh viễn và không thay đổi được. Không có thuốc nào có thể chữa được trừ khi phẫu thuật cấy tóc.

Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da

Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.

Ban nấm da: dị ứng hoặc nhạy cảm với nấm

Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn cơ bản là từng nhóm mụn nước, thường khu trú ở mô cái và mô út. Đôi khi thương tổn khu trú ở mu bàn tay thậm chí có thể ở toàn thân.

Trứng cá thường

Bệnh hay gặp hơn và cũng thường nặng hơn ở nam giới. Trái với quan niệm của dân chúng, bệnh không tự khỏi khi trưởng thành. Nếu không được điều trị, bệnh tồn tại đến tuổi 40, 50 hoặc thậm chí tuổi 60.

Sarcoma Kaposi: chẩn đoán và điều trị

Các tổn thương sarcoma Kaposi ở nhóm bệnh nhân này thường kèm theo thương tổn ở phổi và đường dạ dày ruột cũng như da.

Bệnh chấy rận

Nhiễm rận ở mu rất ít thấy, đặc biệt dễ gặp ở những người lông rậm; thậm chí có thể tìm thấy rận ở lông mi và ở da đầu.

Viêm da bong vảy: chứng đỏ da tróc vảy

Các triệu chứng có thể gồm ngứa, mệt, ớn lạnh, sốt và sút cân. Rét run có thể nổi bật. Bong vảy da có thể toàn thân hoặc rộng và đôi khi cả rụng lông tóc và móng.

Hạt cơm: chẩn đoán và điều trị

Một số tổn thương giống hạt cơm ở các vùng da tiếp xúc ánh mặt trời thực tế lại là các ung thư tế bào gai và dày sừng quá sản do ánh nắng.

Bệnh vảy nến

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.

Viêm da thần kinh: liken thường mạn tính

Cách giải thích cổ điển về viêm da thần kinh là biểu hiện một chu kỳ ngứa gãi tự hết, nhưng không có bằng chứng cho rằng đây là nguyên nhân duy nhất gây nên do thói quen của bệnh nhân.

Luput ban đỏ dạng đĩa mạn tính

Khi ANA dương tính với hiệu giá cao, hoặc hình ảnh lâm sàng gợi có thương tổn nội tạng, có kháng thể chống ADN chuỗi kép và giảm bổ thể trong máu sẽ nghĩ tới luput ban đỏ hệ thống.

Chẩn đoán các bệnh lý da

Tiền sử cũng rất quan trọng trong việc đánh giá sự thất bại trong điều trị. Đối với chuyên khoa ngoài da, trong phần tiền sử này cần có chi tiết cụ thể về cách bệnh nhân đã sử dụng các thuốc bôi như thế nào.

Hồng ban nút

Nghiên cứu mô cho thấy viêm giữa các tế bào dưới da là đặc trưng của hồng ban nút. Mặt khác, phát hiện đó cũng thấy ở các bệnh có liên đới khác.

U mềm lây: chẩn đoán và điều trị

Các tổn thương có thể lan rộng do tự nhiễm. Trong hoạt động tình dục, chúng có thể giới hạn ở vùng sinh dục như dương vật, mu, và mặt trong đùi.

Viêm nang lông

Viêm nang lông do vi khuẩn gram âm, bệnh thường phát triển ở những người đang điều trị trứng cá bằng kháng sinh, có thể bệnh biểu hiện như một đợt bột phát của trứng cá mủ và trứng cá nốt.

Herpes simplex: vết loét do lạnh và do sốt

Triệu chứng cơ bản của herpes simplex là đau rát. Đau dây thần kinh có thể có trước hoặc có đồng thời với các triệu chứng khởi phát.

Viêm da do ánh nắng

Phản ứng viêm da cấp tính, nếu đủ nặng thường kèm theo đau, triệu chứng đường ruột, khó chịu và thậm chí kiệt sức, điều này ít xẩy ra.

Ngứa ở vùng hậu môn sinh dục

Ở phụ nữ ngứa hậu môn đơn thuần rất hiếm còn ngứa âm hộ không phải lúc nào cũng đi kèm ngứa vùng hậu môn, mặc dù ngứa hậu môn thì thường lan tới âm hộ.