Vảy phấn hồng Gibert

2016-06-11 11:44 PM

Các thương tổn cổ điển của vảy phấn hồng Gibert không có biểu hiện như vậy. Lang ben, phát ban do virus, và dị ứng thuốc có thể giống vảy phấn hồng Gibert.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán

Dát màu nâu vàng, hình ôvan, có vảy, nằm dọc theo các đường tự nhiên của thân mình.

Dát mẹ có trước 1- 2 tuần

Thỉnh thoảng có ngứa

Đánh giá chung

Đây là một bệnh viêm nhẹ, cấp tính với 50% gặp ở nữ. Hay gặp ở thanh niên, bệnh thường xảy ra vào mùa xuân, mùa thu. Nhiều người nội trợ cùng bị bệnh một lúc đã được thông báo, và tái phát có thể kéo dài hàng năm. Nguyên nhân chưa biết, nhưng người ta cho rằng nguyên nhân gây bệnh có thể dp picornavirus. Tỉ lệ lây lan ở những cặp vợ chồng là < 2%, vì vậy bất kể là nguyên nhân nào thì nó cũng không phải là bệnh lây lan nhiều.

Lâm sàng

Đôi khi có ngứa dữ dội. Chẩn đoán được xác định khi tìm thấy một hoặc nhiều thương tổn cổ điển. Thương tổn lầ các dát màu nâu, hình ôvan, có đường kính 4 - 5mm. Da ở trung tâm thương tổn nhăn giống như “giấy cuộn thuốc lá” hoặc có viền vảy, một ít vảy dính ở phần chu vi của thương tổn, và còn vùng trung tâm thì không có vảy. Thương tổn sắp xếp theo các đường tự nhiên của thân mình (vì vậy còn được gọi là hình ảnh cây thông nô-el), thương tổn thường khu trú ở gốc chi. Các thể khác mà thương tổn có ở các nếp gấp như bẹn, nách, thì gọi là thể đảo ngược của vảy phấn hồng Gibert, hoặc thể sẩn, đặc biệt gặp ở những người da đen. Thương tổn xuất hiện đầu tiên gọi là “mảng khởi phát”, là thương tổn có kích thước lớn hơn các thương tổn có sau, và xuất hiện truức 1 - 2 tuần. Bệnh kéo dài 8 tuần.

Chẩn đoán phân biệt

Nếu không có các thương tổn điển hình, nếu các dát không ngứa, và đặc biệt có thương tổn ở lòng bàn tay, bàn chân hoặc ở niêm mạc phải nghĩ tới bệnh giang mai giai đoạn hai, nên làm xét nghiệm huyết thanh để chẩn đoán xác định. Đối với những người không chuyên khoa, làm xét nghiệm RPR ở tất cả bệnh nhân là một chỉ định không vô lý. Bệnh nấm biểu hiện ở thân mình là những dát đỏ có vảy nhưng số lượng thương tổn ít hơn nhiều so với vảy phấn hồng Gibert. Soi tươi tìm nấm sẽ nhanh chóng cho chẩn đoán đúng. Đôi khi viêm da đầu có thương tổn ở thân thường biểu hiện là những mảng thương tổn lớn ở vùng xương ức, xương mu và nách. Các thương tổn cổ điển của vảy phấn hồng Gibert không có biểu hiện như vậy. Lang ben, phát ban do virus, và dị ứng thuốc có thể giống vảy phấn hồng Gibert.

Điều trị

Thường không cần phải điều trị trừ trẻ em ở châu Á, Mỹ La Tinh và châu Phi, ở họ thương tổn thường trở nên thẫm màu. Phương pháp điều trị hiệu quả nhất là dùng UVB hàng ngày trong 1 tuần, hoặc prednison dùng như trong điều trị viêm da tiếp xúc. Thuốc bôi steroid nồng độ trung bình (triamcinolon 0,1%) có thể dùng khi ngứa làm bệnh nhân khó chịu. Các thuốc chống ngứa không đặc hiệu (pramoxin, Sarna) có thể dùng nhưng thường ít có giá trị. Kháng histamin cũng có thể dùng cho bệnh nhân nhưng thường gây ngủ.

Tiên lượng

Vảy phân hồng Gibert là một bệnh cấp tính tự khỏi sau 6 tuần.

Bài viết cùng chuyên mục

Bớt bẩm sinh, bớt loạn sản, bớt xanh

Một lần nữa, ta cần nhấn mạnh mục tiêu của các bác sĩ không chuyên khoa là xác định được các bớt không bình thường chứ không cần thiết phải xác định đây là loại bớt gì.

Ngứa ở vùng hậu môn sinh dục

Ở phụ nữ ngứa hậu môn đơn thuần rất hiếm còn ngứa âm hộ không phải lúc nào cũng đi kèm ngứa vùng hậu môn, mặc dù ngứa hậu môn thì thường lan tới âm hộ.

Ngứa: chẩn đoán và điều trị

Có nguyên nhân thông thường nhất của bệnh ngứa liên kết với bệnh toàn thân là tăng ure huyết liên quan đến bệnh tán máu.

Viêm da dị ứng tiếp xúc

Giai đoạn cấp tính thương tổn đặc trưng bởi các mụn nước nhỏ li ti, chảy nước và đóng vảy, khi thương tổn xẹp hoặc thương tổn mạn tính sẽ biểu hiện bằng các vảy da, đỏ da và có thể có dày da.

Viêm tế bào: chẩn đoán và điều trị

Chẩn đoán phân biệt bao gồm viêm da tiếp xúc cấp ở một chi gây đỏ da, mụn nước và phù như trong viêm mô tế bào nhưng ngứa thay thế bằng triệu chứng đau.

Rụng tóc hói: chẩn đoán và điều trị

Rụng tóc do sẹo thường là rụng tóc vĩnh viễn và không thay đổi được. Không có thuốc nào có thể chữa được trừ khi phẫu thuật cấy tóc.

Bệnh Zona: chẩn đoán và điều trị

Bệnh zona là một bệnh da có bọng nước cấp tính do virus mà virus có hình thái giống như virus thủy đậu. Bệnh thường gặp ở người lớn. Hầu hết bệnh nhân chỉ bị zona một lần.

Nhọt và nhọt độc

Có nổi bật lên cảm giác đau và nhậy cảm, và với nhọt độc thì dữ dội hơn nhọt thường. Áp xe nang lông hoặc là tròn hoặc là hình nón.

U mềm lây: chẩn đoán và điều trị

Các tổn thương có thể lan rộng do tự nhiễm. Trong hoạt động tình dục, chúng có thể giới hạn ở vùng sinh dục như dương vật, mu, và mặt trong đùi.

Herpes simplex: vết loét do lạnh và do sốt

Triệu chứng cơ bản của herpes simplex là đau rát. Đau dây thần kinh có thể có trước hoặc có đồng thời với các triệu chứng khởi phát.

Viêm da do ánh nắng

Phản ứng viêm da cấp tính, nếu đủ nặng thường kèm theo đau, triệu chứng đường ruột, khó chịu và thậm chí kiệt sức, điều này ít xẩy ra.

Viêm da tiết bã nhờn và bệnh gàu

Có thể có ngứa nhưng không tồn tại hằng định. Các vùng da đầu, mặt, ngực, lưng, rốn, các nếp của da có thể nhờn hoặc khô với vảy khô hoặc vảy vàng nhờn. Bờ mi cũng có thể có tổn thương.

Bệnh nấm móng

Bệnh nấm móng thường khó điều trị vì đòi hỏi thời gian điều trị dài và bệnh hay tái phát. Nấm móng tay đáp ứng điều trị tốt hơn nấm móng chân.

Viêm kẽ: chẩn đoán và điều trị

Điều trị bằng cách luôn giữ cho vùng kẽ đó sạch, khô, và đắp các dung dịch mang lại hiệu quả cao. Nếu tìm thấy bào tử nấm hoặc vi khuẩn, thì phải bôi imidazol chống nấm dạng dung dịch, hoặc bột.

Ung thư tế bào đáy

Một số ít tổn thương có thể loét và gây một sự phá hủy lớn, cuối cùng xâm nhập các cấu trúc sống và hiếm khi xâm nhập vào não, gây tử vong.

Hồng ban ly tâm mãn tính

Ở trung tâm thương tổn nơi bị cắn thì lành, để lại một viền đỏ, nó cũng có thể nổi lên, tạo mụn nước hoặc hoại tử.

Ghẻ: chẩn đoán và điều trị

Các tổn thương đặc trưng có thể gặp ở núm vú phụ nữ và như là các mụn nước có thể thấy ở mông. Viêm da mủ thường là dấu hiệu biểu hiện của bệnh.

Rôm ban nhiệt

Sử dụng những chế phẩm kháng sinh như chlorhexidin trước khi tiếp xúc với nóng ẩm có thể tránh được rôm. Những người dễ bị rôm nên tránh tiếp xúc với môi trường nóng ẩm.

Tổ đỉa: chẩn đoán và điều trị

Các mụn nước trong, nhỏ, nằm rải rác ở hai bên của các ngón tay và ở lòng bàn tay, lòng bàn chân. Trông giống như hạt gạo tròn trong bột sắn. Các thương tổn này có thể rất ngứa.

Luput ban đỏ dạng đĩa mạn tính

Khi ANA dương tính với hiệu giá cao, hoặc hình ảnh lâm sàng gợi có thương tổn nội tạng, có kháng thể chống ADN chuỗi kép và giảm bổ thể trong máu sẽ nghĩ tới luput ban đỏ hệ thống.

Chàm thể tạng: bệnh da có vảy

Chàm thể tạng có hình thái và tỉ lệ khác nhau ở lứa tuổi khác nhau, vì hầu hết bệnh nhân chàm thể tạng có da khô và bong vảy ở một vài thời điểm nên bệnh này được thảo luận ở bệnh da có vảy.

Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da

Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.

Bệnh vảy nến

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.

Viêm quầng: chẩn đoán và điều trị

Thương tổn không bao giờ hóa mủ và hoại tử và khi khỏi không để lại sẹo. Bệnh có thể biến chứng gây rách da tạo cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập.

Ung thư tế bào gai

Cần phải khám da và dùng các liệu pháp điều trị như đối với bệnh ung thư tế bào đáy. Cắt bỏ là cách điều trị được dùng nhiều đối với ung thư tế bào đáy.