Viêm da bong vảy: chứng đỏ da tróc vảy

2016-06-16 11:30 PM

Các triệu chứng có thể gồm ngứa, mệt, ớn lạnh, sốt và sút cân. Rét run có thể nổi bật. Bong vảy da có thể toàn thân hoặc rộng và đôi khi cả rụng lông tóc và móng.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán

Tróc vảy da và ban đỏ trên vùng rộng da thân mình.

Ngứa, ớn lạnh, sốt, rét run, sút cân.

Bệnh tiên phát hoặc do tiếp xúc với chất độc (do tiếp xúc, uống, đường tiêm truyền) có thể thấy rõ rệt.

Đánh giá chung

Có thể thấy bệnh da có từ trước như một nguyên nhân gây nên trong khoảng 40% số trường hợp, bao gồm các bệnh như bệnh vảy nến, viêm da dị ứng, viêm da tiếp xúc, bệnh vảy phấn đỏ tóc và viêm da tuyến bã. Nhiều người lớn bị viêm da bong vảy có bị cả bệnh vẩy nến. Phản ứng với thuốc bôi và thuốc uống tính được khoảng 1 trên 4 trường hợp và ung thư khoảng 10% (u lympho tế bào T ở da, hội chứng Sezary). Nguyên nhân của các trường hợp còn lại là không xác định. Vào thời điểm bệnh biểu hiện cấp tính không có tiền sử rõ rệt bị bệnh da hoặc do tiếp xúc thì điều quan trọng là phải xác định chẩn đoán đặc hiệu bệnh cơ bản, thậm chí phải sinh thiết da và có thể phải theo dõi một thời gian để chẩn đoán.

Triệu chứng và dấu hiệu

Các triệu chứng có thể gồm ngứa, mệt, ớn lạnh, sốt và sút cân. Rét run có thể nổi bật. Bong vảy da có thể toàn thân hoặc rộng và đôi khi cả rụng lông tóc và móng. Bệnh sưng hạch lympho toàn thể có thể do khối u lympho hoặc bệnh bạch cầu hay có thể là một phần của bệnh cảnh lâm sàng bệnh da (viêm hạch lympho bệnh lý da). Tróc niêm mạc hiếm gặp.

Xét nghiệm

Đếm tế bào máu và cả sinh thiết da cho thấy ở tất cả bệnh nhân bị bệnh này có những biến đổi của viêm da đặc hiệu hoặc u lympho tế bào của da hoặc bệnh bạch cầu. Bạch cầu ngoại vi có thể biến đổi dòng trong hội chứng Sezary.

Chẩn đoán phân biệt

Điều quan trọng thường là nhận biết nguyên nhân gây viêm da tróc vảy sớm ngay từ khi bắt đầu bị bệnh, vì vậy việc theo dõi bệnh nhân cẩn thận là quan trọng. Chính bản thân các bệnh như bệnh vẩy nến, liken phẳng, viêm da tuyến bã nặng và ban da do thuốc có thể tiến triển thành viêm da tróc vẩy.

Biến chứng

Mất protein gây yếu ớt và mất nước có thể tiến triển ở bệnh nhân bị chứng đỏ da viêm toàn thân, có thể kết hợp nhiễm trùng huyết hoặc vi khuẩn niệu.

Điều trị

Bôi tại chỗ

Ở nhà điều trị gồm tắm lạnh rồi nóng và bôi steroid loại tác dụng nhẹ có băng ướt hoặc dùng bộ quần áo băng chun (Simmons Co, chattanooga, Tennessee hoặc tắm hơi gây ngủ, tắm xuân). Nếu ban đỏ trở thành mạn tính và không xử lý được ở điều kiện ngoại trú thì phải nhập viện. Giữ nhiệt độ phòng ở nhiệt độ ấm ổn định và điều trị bôi thuốc như ở ngoài viện.

Các biện pháp đặc hiệu

Dừng dùng các loại thuốc nếu có thể. Dùng đường uống hay tiêm corticosteroid có thể tạo điều kiện tăng rõ rệt viêm da bong vẩy nặng hoặc bạo phát nến cần tránh điều trị kéo dài. Ngoài ra cần dung toàn thân corticosteroid một cách thận trọng vì một số bệnh nhân viêm da bong vẩy còn bị bệnh vấy nến và có thể tiến triển thành bệnh vẩy nến mụn mủ. Đối với những trường hợp ban đỏ vẩy nến ngoan cố và bệnh vẩy phấn đỏ tóc có thể chỉ định hoặc isotretinoin, etretinat hoặc methotrexat. Ban da đỏ thứ phát thành u lympho hoặc bệnh bạch cầu đòi hỏi phải dùng hóa liệu pháp đặc hiệu bôi tại chỗ hoặc đường toàn thân kết hợp với liệu pháp tia xạ. Nên cho dùng kháng sinh thích hợp diệt cả tụ cầu khi có các dấu hiệu nhiễm khuẩn. Mủ da là một biện chứng có thể gặp của viêm da bong vẩy.

Tiên lượng

Hầu hết bệnh nhân khỏi hoàn toàn hoặc đỡ rõ rệt sau một thời gian điều trị nhưng có thể phải điều trị kéo dài. Đã có báo cáo về tử vong nhưng rất hiếm trừ khi có bệnh ung thư. Có một số ít bệnh nhân bị ban đỏ da không giảm trong những giai đoạn khỏng xác định.

Bài viết cùng chuyên mục

Các thương tổn ở da do động vật chân đốt

Trong các kẽ hở của giường và đồ gỗ, các vết cắn có xu hướng theo đường thẳng hoặc thành đám. Mày đay sẩn là một tổn thương đặc trưng cho các vết cắn của rệp.

Bệnh vảy nến

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.

Viêm nang lông

Viêm nang lông do vi khuẩn gram âm, bệnh thường phát triển ở những người đang điều trị trứng cá bằng kháng sinh, có thể bệnh biểu hiện như một đợt bột phát của trứng cá mủ và trứng cá nốt.

Loét da do tỳ đè

Nếu vết loét lan rộng rất nhanh có thể là loét của viêm da mủ hoại tử kết hợp với bệnh viêm đường ruột.

U mềm lây: chẩn đoán và điều trị

Các tổn thương có thể lan rộng do tự nhiễm. Trong hoạt động tình dục, chúng có thể giới hạn ở vùng sinh dục như dương vật, mu, và mặt trong đùi.

Viêm da tiết bã nhờn và bệnh gàu

Có thể có ngứa nhưng không tồn tại hằng định. Các vùng da đầu, mặt, ngực, lưng, rốn, các nếp của da có thể nhờn hoặc khô với vảy khô hoặc vảy vàng nhờn. Bờ mi cũng có thể có tổn thương.

Các thương tổn sắc tố da

Những bớt nghi ngờ là những bớt có bờ không đều, không đối xứng hoặc bờ có tua là nơi mà sắc tố thường phát triển lan ra cả phần da bình thường quanh nó.

Ung thư tế bào gai

Cần phải khám da và dùng các liệu pháp điều trị như đối với bệnh ung thư tế bào đáy. Cắt bỏ là cách điều trị được dùng nhiều đối với ung thư tế bào đáy.

Viêm quầng: chẩn đoán và điều trị

Thương tổn không bao giờ hóa mủ và hoại tử và khi khỏi không để lại sẹo. Bệnh có thể biến chứng gây rách da tạo cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập.

Viêm da dạng herpes

Bệnh nhân có viêm ruột nhạy cảm với gluten, nhưng đôi với phần lớn bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.

Hồng ban ly tâm mãn tính

Ở trung tâm thương tổn nơi bị cắn thì lành, để lại một viền đỏ, nó cũng có thể nổi lên, tạo mụn nước hoặc hoại tử.

Chàm thể tạng: bệnh da có vảy

Chàm thể tạng có hình thái và tỉ lệ khác nhau ở lứa tuổi khác nhau, vì hầu hết bệnh nhân chàm thể tạng có da khô và bong vảy ở một vài thời điểm nên bệnh này được thảo luận ở bệnh da có vảy.

Ban nấm da: dị ứng hoặc nhạy cảm với nấm

Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn cơ bản là từng nhóm mụn nước, thường khu trú ở mô cái và mô út. Đôi khi thương tổn khu trú ở mu bàn tay thậm chí có thể ở toàn thân.

Viêm da dị ứng tiếp xúc

Giai đoạn cấp tính thương tổn đặc trưng bởi các mụn nước nhỏ li ti, chảy nước và đóng vảy, khi thương tổn xẹp hoặc thương tổn mạn tính sẽ biểu hiện bằng các vảy da, đỏ da và có thể có dày da.

Herpes simplex: vết loét do lạnh và do sốt

Triệu chứng cơ bản của herpes simplex là đau rát. Đau dây thần kinh có thể có trước hoặc có đồng thời với các triệu chứng khởi phát.

Sarcoma Kaposi: chẩn đoán và điều trị

Các tổn thương sarcoma Kaposi ở nhóm bệnh nhân này thường kèm theo thương tổn ở phổi và đường dạ dày ruột cũng như da.

Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da

Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.

Viêm kẽ: chẩn đoán và điều trị

Điều trị bằng cách luôn giữ cho vùng kẽ đó sạch, khô, và đắp các dung dịch mang lại hiệu quả cao. Nếu tìm thấy bào tử nấm hoặc vi khuẩn, thì phải bôi imidazol chống nấm dạng dung dịch, hoặc bột.

Hạt cơm: chẩn đoán và điều trị

Một số tổn thương giống hạt cơm ở các vùng da tiếp xúc ánh mặt trời thực tế lại là các ung thư tế bào gai và dày sừng quá sản do ánh nắng.

Bệnh nấm móng

Bệnh nấm móng thường khó điều trị vì đòi hỏi thời gian điều trị dài và bệnh hay tái phát. Nấm móng tay đáp ứng điều trị tốt hơn nấm móng chân.

Ung thư tế bào đáy

Một số ít tổn thương có thể loét và gây một sự phá hủy lớn, cuối cùng xâm nhập các cấu trúc sống và hiếm khi xâm nhập vào não, gây tử vong.

Rụng tóc hói: chẩn đoán và điều trị

Rụng tóc do sẹo thường là rụng tóc vĩnh viễn và không thay đổi được. Không có thuốc nào có thể chữa được trừ khi phẫu thuật cấy tóc.

Bớt bẩm sinh, bớt loạn sản, bớt xanh

Một lần nữa, ta cần nhấn mạnh mục tiêu của các bác sĩ không chuyên khoa là xác định được các bớt không bình thường chứ không cần thiết phải xác định đây là loại bớt gì.

Bệnh Bowen và bệnh Paget

Bệnh tiến triển lành tính, nhưng khi những thương tổn này phát triển thành ung thư tế bào gai xâm lấn, thì cắt bỏ hoặc chỉ định phương pháp điều trị khác.

Hồng ban nút

Nghiên cứu mô cho thấy viêm giữa các tế bào dưới da là đặc trưng của hồng ban nút. Mặt khác, phát hiện đó cũng thấy ở các bệnh có liên đới khác.