Triglycerid máu cao

2016-02-23 03:25 PM

Điều trị cơ bản với chứng tăng triglycerid là chế độ ăn, tránh dùng rượu và thức ăn béo, hạn chế calo. Sự kiểm soát các nguyên nhân thứ phát gây tăng nồng độ triglycerid cũng có thể hữu ích.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Người bệnh với nồng độ triglycerid huyết thanh rất cao dễ có nguy cơ bị bệnh viêm tụy. Sinh bệnh học của bệnh vẫn chưa chắc chắn bởi vì một số bệnh nhân có nồng độ triglycerid rất cao nhưng không bao giờ phát triển viêm tụy. Hầu hết các bệnh nhân có các bất thường bẩm sinh về chuyển hóa triglycerid sẽ có biểu hiện bệnh khi còn nhỏ; tăng triglycerid máu do viêm tụy mà biểu hiện lần đẩu khi đã trưởng thành thường là do rối loạn mắc phải trong chuyển hóa lipid.

Mặc dù không có các nồng độ triglycerid nào được xác định là luôn luôn gây viêm tụy, song hầu hết các bác sĩ lâm sàng đều cảm thấy không ổn khi nồng độ của chúng lớn hơn 1000 mg/dl. Nguy cơ viêm tụy có thể còn liên quan nhiều hơn đến nồng độ triglycerid sau khi tiêu thụ một bữa ăn có nhiều chất béo. Bởi vì sự tăng triglycerid sau bữa ăn là không thể tránh khỏi được nếu ăn các thức ăn có chứa chạt béo, do đó ở những người dễ bị bệnh viêm tụy phải duy trì tốt các nồng độ triglycerid lúc đói ở dưới mức này.

Điều trị cơ bản với chứng tăng triglycerid là chế độ ăn, tránh dùng rượu và thức ăn béo, hạn chế calo. Sự kiểm soát các nguyên nhân thứ phát gây tăng nồng độ triglycerid cũng có thể hữu ích. Ở những bệnh nhân có tăng kéo dài trong giới hạn viêm tụy dù đã tuân thủ chế độ ăn đầy đủ và ở họ đã có một giai đoạn viêm tụy trước đó phải chỉ định dùng một liều thuốc hạ thấp triglycerid (ví dụ niacin với liều như đã mô tả ở trên).

Liệu rằng các bệnh nhân có tăng các triglycerid (> 250 mg/dl) và không có các bất thường lipoprotein khác có tăng nguy cơ mắc bệnh xơ vữa mạch hay không vẫn còn chưa biết. Một số các bệnh nhân này có thể thuộc các gia đình có rối loạn di truyền được biết đến như là chứng tăng triglycerid huyết kết hợp với yếu tố gia đình. Rốì loạn này được đặc trưng bởi một loạt các bất thường lipid ở các thành viên khác nhau trong gia đình. Một số có nồng độ cholesterol tăng cao, một số có nồng độ triglycerid tăng cao và một số thì cả hai đều tăng cao. Hiện nay dường như người ta thấy rằng có sự tiếp nối hay gặp là biểu hiện bất thường ở một trong các apoprotein (B-10) đi kèm với LDL và do đó điều này có thể là một yếu tố nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Tuy nhiên tác dụng của việc điều trị nồng độ triglycerid cao riêng lẻ trên nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành ở những bệnh nhân này vẫn chưa rõ.

Các chỉ định hiện nay cho điều trị triglycerid máu cao để phòng ngừa bệnh tim mạch vành vẫn còn gây tranh cãi. Ớ các bệnh nhân có bệnh tim mạch vành đã rõ, việc điều trị tăng đơn lẻ triglycerid đến 400 mg/dl hoặc nhiều hơn bằng một chất ức chế HMG-CoA reductase là hoàn toàn hợp lý. Hầu hết các bệnh nhân này sẽ có cholesterol LDL tăng cao (> 130 mg/dl) và sẽ thu được lợi ích từ điều trị bằng thuốc dù cho việc ước tính nồng độ cholesterol là không thể được cho tới khi triglycerid xuống dưới 400 mg/dl. Ớ các bệnh nhân không có bệnh tim mạch vành đã xác định thì chiến lược tối ưu vẫn còn chưa rõ. Với các nồng độ triglycerid lớn hơn 400 mg/dl thì có thể dùng cách tiếp cận không bằng thuốc để điều trị ban đầu bao gồm giảm cân, chế độ ăn ít chất béo, tránh dùng nhiều rượu và luyện tập đều đặn. Nếu nồng độ triglycerid huyết thanh vẫn lớn hơn 400 mg/dl (nhưng < 1000 mg/ dl), có thể định lượng trực tiếp cholesterol LDL bằng phương pháp siêu li tâm. Các kết luận điều trị khi đó có thể dựa vào nồng độ cholesterol LDL. 

Bài viết cùng chuyên mục

Phân biệt ngoại tâm thu trên thất bị dẫn truyền lệch hướng với ngoại tâm thu thất

Mối liên quan của sóng P với phức bộ tim nhanh cũng giúp ích. Một mối tương quan 1 và1 thường có nghĩa là nguồn gốc trển thất, ngoại trừ trong trường hợp tim nhanh thất có sóng P dẫn truyền ngược.

Hở van động mạch chủ

Hở van động mạch chủ đã trở nên ít gặp hơn từ thời đại kháng sinh, nhưng các nguyên nhân không do thấp lại thường gặp hơn, và là nguyên nhân chủ yếu gây hở van động mạch chủ đơn độc.

Viêm màng ngoài tim

Màng ngoài tim thường bị tổn thương do các quá trình làm tổn thương tim nhưng nó cũng có thể bị tổn thương bởi các bệnh của tổ chức kề bên và có thể là bệnh tiên phát tại piàng ngoài tim.

Lipid máu và các bất thường về lipid

Hai loại lipid chính trong máu là cholesterol và triglycerid, chúng được mang trong các phân tử lipoprotein, và các túi hình cầu cũng chứa cả các protein

Tạo nhịp tim vĩnh viễn

Về mặt quan điểm thì một máy tạo nhịp nhận cảm và tạo nhịp ở cả hai buồng là phương thức sinh lý nhất để tạo nhịp cho những bệnh nhân vẫn còn nhịp xoang.

Nhịp nhanh thất và rung thất

Nhịp nhanh thất là một biến chứng thường gặp của nhồi máu cơ tim cấp nhưng nó có thể xảy ra trong bệnh cơ tim phì đại, sa van hai lá, viêm cơ tim và trong hầu hết các hình thái khác của bệnh cơ tim.

Suy tim: chẩn đoán và điều trị

Khi tim suy, một số thích ứng xảy ra cả ở tim và ở ngoại biên. Nếu như thể tích nháp bóp của thất giảm do giảm co bóp hoặc tăng tiền gánh qụá mức, thể tích và áp lực cuối tâm trương ở những buồng này sẽ tăng lên.

Các rối loạn nhịp xoang

Ngoại tâm thu nhĩ và thất thường xảy ra thích ứng với nhịp chậm xoang, hiếm khi cần phải tạo nhịp nếu các triệu chứng xuất hiện liên quan với nhịp châm.

Bệnh mạch vành: bệnh xơ cứng động mạch vành, bệnh tim thiếu máu cục bộ

Các quá trinh này tiến triển chậm qua nhiều thập kỷ trong hầu hết các trường hợp. Trái lại, lịch sử tự nhiên của mảng xơ vữa chín khó có thể dự đoán được.

Phân ly nhĩ thất và rối loạn dẫn truyền trong thất

Tiên lượng của blốc trong thất nói chung là tùy thuộc vào bệnh tim cơ sở. Ngay cả trong blổc hai phân nhanh, tỷ lệ blôc tim hoàn toàn huyền bí hoặc tiến triển tới hình thái blốc này rất thấp và tạo nhịp thường là không xác đáng.

Hẹp van hai lá

Hầu hết tất cả các bệnh nhân hẹp van hai lá đều có bệnh tim từ trước là bệnh thấp tim mặc dù tiền sử thấp tim thường không rõ ràng.

Các khối u tim

Chẩn đoán xác định thường dựa vào siêu âm nhưng cộng hưởng từ hạt nhân và chụp cắt lớp bằng máy vi tính cũng có thể giúp ích.

Đau thắt ngực không ổn định

Hầu hết các bệnh nhân bị đau thắt ngực không ổn định sẽ có những thay đổi điện tâm đồ trong cơn đau, thường thấy sự chênh xuống của đoạn ST hoặc sóng T dẹt hoặc đảo ngược nhưng đôi khi ST lại chênh lên.

Hở van hai lá

Hở van hai lá có thể do nhiều quá trình gây ra. Bệnh thấp kết hợp với van dày và giảm di động của lá van và thường có bệnh cảnh hỗn hợp của hẹp và hở.

Ngoại tâm thu nhĩ

Những nhát ngoại tâm thu như vậy thường xảy ra ở tim bình thường và không bao giờ là cơ sở đầy đủ cho chẩn đoán bệnh tim. Việc tăng nhanh tần số tim bằng bất kỳ cách nào đều xoá bỏ được ngoại tâm thu.

Điều trị sau nhồi máu cơ tim

Những bệnh nhân có đau thắt ngực sau nhồi máu nên được chụp mạch vành. Các tác giả phân biệt các xét nghiệm nên thực hiện thường quy ở các bệnh nhân khác.

Hẹp động mạch phổi

Bệnh nhân bị hẹp động mạch phổi nhẹ có thể có tuổi thọ bình thường. Hẹp nặng thường gắn liền với chết đột ngột và có thể gậy ra suy tim vào những năm 20 đến 30 tuổi.

Còn ống động mạch

Ống động mạch từ thời kỳ bào thai không thể đóng lại được và vẫn tồn tại một shunt nối động mạch phổi trái với động mạch chủ, thường ở gần chỗ xuất phát của động mạch dưới đòn trái.

Các biến chứng của nhồi máu cơ tim

Hầu hết các bệnh nhân có đau thát ngực sau nhồi máu và tất cả những người trơ với điều trị thuốc thì nên được thông tim sớm và tái tưới máu bằng PTCA hoặc CABG.

Cấp cứu tăng huyết áp

Ngày càng có nhiều các thuốc dùng trong điều trị cấp cứu tăng huyết áp, đã liệt kê các thuốc, liều lượng, và tác dụng phụ.

Cơ chế rối loạn nhịp tim

Liệu tần số tim chậm có sinh ra triệu chứng lúc nghỉ hoặc khi gắng sức hay không là tùy thuộc vào tình trạng cơ sở của cơ tim và khả năng nó có thể tăng thể tích nhát bóp.

Thông liên thất

Trong tổn thương này, có một lỗ thông ở phần trên của vách liên thất do không hợp nhất được với thành động mạch chủ nên máu đi từ tâm thất trái có áp lực cao sang thất phải có áp lực thấp.

Thông liên nhĩ

Những bệnh nhân với shunt nhỏ có thể có cuộc sống bình thường, các shunt lớn sẽ gây ra biến chứng ở tuổi bốn mươi. Tăng sức cản mạch máu phổi thứ phát dẫn tới tăng huyết áp động mạch phổi hiếm khi xảy ra ở trẻ em.

Đau thắt ngực

Đau thắt ngực thường do bệnh xơ vữa các động mạch vành gây ra. Co thắt động mạch vành cũng có thể xẩy ra ở vị trí tổn thương hoặc hiếm hơn, ở những động mạch hoàn toàn bình thường.

Bệnh tăng huyết áp

Tăng huyết áp thoáng qua, do sự xúc động hoặc lo sợ gây ra, không nên chẩn đoán là bệnh tăng huyết áp, nhưng có thể chỉ ra một xu hướng tiến triển của nó.