- Trang chủ
- Chẩn đoán & điều trị
- Chẩn đoán và điều trị bệnh tim
- Ngoại tâm thu thất
Ngoại tâm thu thất
Theo dõi điện tâm đồ di động hoặc theo dõi trong gắng sức sẽ cho thấy số lượng ngoại tâm thu thất nhiều hơn và các nhát ngoại tâm thu thất phức tạp hơn khi nó xảy ra trên 1 băng điện tâm đồ thường ngày.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Ngoại tâm thu thất cũng giống như ngoại tâm thu nhĩ về cơ chế và các biểu hiện, nhưng nó thường gặp hơn, Ngoại tâm thu thất được đặc trưng bằng phức bộ QRS rộng khác với hình dạng của phức bộ QRS bình thường của bệnh nhân. Thông thường không có sóng P đi trước phức bộ QRS mặc dù đôi khi có thể có dẫn truyền ngược thất - nhĩ. Trừ trường hợp có dẫn truyền ngược thất - nhĩ sau ngoại tâm thu sẽ có nghỉ bù đầy đủ. Ngoại tâm thu thất nhịp hai hoặc và nhịp ba có nghĩa là cứ 1 hoặc 2 nhát bóp cơ sở lại có 1 nhát ngoại tâm thu. Nói chung gắng sức sẽ làm ngoại tâm thu biến mất ở những người có tim bình thường và nhịp tim trở nên đều hơn. Bệnh nhân có thể hoặc không cảm thấy nhịp không đều, nếu có thường cảm thấy một nhát đập nhảy cóc.
Theo dõi điện tâm đồ di động hoặc theo dõi trong gắng sức sẽ cho thấy số lượng ngoại tâm thu thất nhiều hơn và các nhát ngoại tâm thu thất phức tạp hơn khi nó xảy ra trên 1 băng điện tâm đồ thường ngày. Ngoại tâm thu thất do mức độ gắng sức thấp gây ra có thể có tiên lượng xấu hơn những ngoại tâm thu thất xảy ra tự phát. Ý nghĩa của ngoại tâm thu thất ở những người không có bệnh tim thực tổn còn chưa rõ ràng. Chết đột ngột xảy ra nhiều hơn (có thể đoán là do rung thất) khi ngoại tâm thu thất xảy ra ở những người có bệnh tim thực tổn nhưng không xác định được ở những người không có bệnh tim.
Nếu không có bệnh tim kết hợp và nếu như ngoại tâm thu thất không có triệu chứng thì không nên tiến hành điều trị đặc hiệu. Nếu như có bệnh tim kết hợp và có tríẹu chứng, cần phải loại trừ những rối loạn điện giải (đặc biệt là giảm hoặc tăng kali máu, hạ magie máu), cường năng tuyến giáp và một bệnh tim nào đó. Điều trị bằng thuốc có thể chỉ định cho những bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng. Giá trị của việc ức chế các ngoại tâm thu thất ở những bệnh nhân không có triệu chứng còn chưa được chứng minh thậm chí khi chúng xảy ra thành từng chùm hoặc một đoạn ngắn. Những tài liệu từ thử nghiệm ức chế loạn nhịp do mạch vành cho thấy rằng trong bối cảnh có bệnh mạch vành và các thuốc nhóm I có tỷ lệ nguỹ cơ/lợi ích của biện pháp điều trị dự phòng này là không tốt. Nếu như bệnh cơ sở là sa van hai lá, bệnh cơ tim phì đại, phì đại thất trái, bệnh mạch vành hoặc nếu như khoảng QT kéo dài, thì thuốc chẹn beta có thể có giá trị thậm chí ngay cả khi bình thường các thuốc này ít thành công. Các thuốc nhóm la và Ib đều có hiệu quả làm giảm ngoại tâm thu thất nhưng thường gây tác dụng phụ và có thể làm loạn nhịp nặng lên ở 5 - 20% số bệnh nhân. Các thuốc nhóm Ic mặc dù có hiệu quả cao vẫn không nên sử dụng bởi vì chúng có khả năng làm tỷ lệ tử vong tăng. Các thuốc nhóm III như sotalol có thể là thuốc an toàn nhất nhưng các tác dụng phụ thường gặp nhiều hơn so với chẹn bêta khác.
Bài viết cùng chuyên mục
Block nhĩ thất
Những bệnh nhân bị blốc tim hoàn toàn từng cơn hoặc blốc dưới nút hoàn toàn mạn tính cần phải tạo nhịp vĩnh viễn, và tạo nhịp tạm thời được chỉ định nếu tạo nhịp cấy chưa được tiến hành ngay.
Block đường ra xoang nhĩ và hội chứng nút xoang bệnh lý
Blốc xoàng nhĩ thường không có triệu chứng, mặc dù ngừng dài tương đương với ngừng xoang hiếm khi xảy ra như là một phần của hội chứng nút xoang bệnh lý và được điều trị như được phác thảo dưới đây.
Hẹp van hai lá
Hầu hết tất cả các bệnh nhân hẹp van hai lá đều có bệnh tim từ trước là bệnh thấp tim mặc dù tiền sử thấp tim thường không rõ ràng.
Các khối u tim
Chẩn đoán xác định thường dựa vào siêu âm nhưng cộng hưởng từ hạt nhân và chụp cắt lớp bằng máy vi tính cũng có thể giúp ích.
Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn
Những vi khuẩn độc hơn, đặc biệt là tụ cầu vàng, có khuynh hướng gây ra nhiễm khuẩn tiến triển và hủy hoại nhanh hơn. Bệnh nhân thường có biểu hiện bằng sốt cấp tính
Còn ống động mạch
Ống động mạch từ thời kỳ bào thai không thể đóng lại được và vẫn tồn tại một shunt nối động mạch phổi trái với động mạch chủ, thường ở gần chỗ xuất phát của động mạch dưới đòn trái.
Các xét nghiệm và thủ thuật chẩn đoán bệnh tim mạch
Các thủ thuật chẩn đoán không chảy máu đã ngày càng tăng về số lượng và ứng dụng trong chẩn đoán. Tuy nhiên chúng thường bị lạm dụng quá mức.
Hẹp van động mạch chủ
Hẹp van động mạch chủ có thể xảy ra sau thấp tim nhưng nguyên nhân thường gặp là do sự calci hóa van dần dần chồng chéo lên bệnh van động mạch chủ hai lá bẩm sinh hoặc ở người già có van bình thường trước đó.
Các kỹ thuật đánh giá rối loạn nhịp
Cần phải thật thận trọng trước khi gắn các triệu chứng của bệnh nhân với các rối loạn nhịp hoặc rối loạn dẫn truyền phát hiện thấy trong khi theo dõi liên tục mà không có triệu chứng đồng thời.
Lipid máu và các bất thường về lipid
Hai loại lipid chính trong máu là cholesterol và triglycerid, chúng được mang trong các phân tử lipoprotein, và các túi hình cầu cũng chứa cả các protein
Phân biệt ngoại tâm thu trên thất bị dẫn truyền lệch hướng với ngoại tâm thu thất
Mối liên quan của sóng P với phức bộ tim nhanh cũng giúp ích. Một mối tương quan 1 và1 thường có nghĩa là nguồn gốc trển thất, ngoại trừ trong trường hợp tim nhanh thất có sóng P dẫn truyền ngược.
Viêm cơ tim cấp do thuốc và nhiễm độc
Các phản ứng tăng nhạy cảm với sulfonamid, penicillin và aminosalicylic acid cũng nhừ các thuốc khác có thể gây ra rối loạn chức năng tim. Tia xạ cũng có thể gây phản ứng viêm cơ tim cấp cũng như gây xơ hóa mạn tính, thường gắn liền với viêm màng ngoài tim.
Bệnh tim và phẫu thuật
Đánh giá lâm sàng sẽ cho những chỉ dẫn hữu ích nhất trong việc xác định mối nguy cơ của phẫu thuật ngoài tim
Nhịp nhanh thất và rung thất
Nhịp nhanh thất là một biến chứng thường gặp của nhồi máu cơ tim cấp nhưng nó có thể xảy ra trong bệnh cơ tim phì đại, sa van hai lá, viêm cơ tim và trong hầu hết các hình thái khác của bệnh cơ tim.
Bệnh cơ tim giãn
Thường không thể phát hiện được nguyên nhân, nhưng nghiện rượu lâu ngày và viêm cơ tim là những nguyên nhân thường gặp. Hơn nữa, nhiều người coi bệnh cơ tim giãn ngẫu phát thường là giai đoạn cuối của viêm cơ tim.
Triglycerid máu cao
Điều trị cơ bản với chứng tăng triglycerid là chế độ ăn, tránh dùng rượu và thức ăn béo, hạn chế calo. Sự kiểm soát các nguyên nhân thứ phát gây tăng nồng độ triglycerid cũng có thể hữu ích.
Tim nhanh kịch phát trên thất
Cơ chế thường gặp nhất của tim nhanh kịch phát và kết thúc bởi một ngoại tâm thu nhĩ hoặc một ngoại tâm thu thất ngẫu nhiên. Vòng vào lại có thể bao hàm cả nút xoang, nút nhĩ thất, hoặc đường dẫn truyền phụ.
Suy tim: chẩn đoán và điều trị
Khi tim suy, một số thích ứng xảy ra cả ở tim và ở ngoại biên. Nếu như thể tích nháp bóp của thất giảm do giảm co bóp hoặc tăng tiền gánh qụá mức, thể tích và áp lực cuối tâm trương ở những buồng này sẽ tăng lên.
Hẹp động mạch phổi
Bệnh nhân bị hẹp động mạch phổi nhẹ có thể có tuổi thọ bình thường. Hẹp nặng thường gắn liền với chết đột ngột và có thể gậy ra suy tim vào những năm 20 đến 30 tuổi.
Đánh giá những người thoát khỏi chết đột ngột do tim
Một vấn đề điều trị quan trọng ở những bệnh nhân đã bị ngất, tim nhanh thất có triệu chứng hoặc thoát khỏi chết đột ngột là đưa ra những lời khuyên liên quan tới việc lái xe ôtô.
Phù phổi cấp
Phù phổi cấp có biểu hiện bệnh cảnh lâm sàng đặc trưng là khó thở dữ dội, khạc bọt hồng, vã mồ hôi và tím tái. Khám phổi cho thấy ran ở khắp hai phế trường hoặc ran rít và ran phế quản nói chung.
Viêm cơ tim cấp nhiễm trùng
Bệnh nhân có thể có dấu hiệu trong vài ngày đến một vài tuần sau đợt sốt cấp hoặc nhiễm khuẩn đường hồ hấp hoặc có suy tim mà không có triệu chứng trước đó.
Các triệu chứng và dấu hiệu bệnh tim
Việc nhận thấy nhịp đập của tim, có thể là hiện tượng bình thường, hoặc có thể phàn ánh tăng cung lượng tim, hoặc tăng cung lượng nhát bóp tim.
Cơ chế rối loạn nhịp tim
Liệu tần số tim chậm có sinh ra triệu chứng lúc nghỉ hoặc khi gắng sức hay không là tùy thuộc vào tình trạng cơ sở của cơ tim và khả năng nó có thể tăng thể tích nhát bóp.
Thủ thuật tái tưới máu cho các bệnh nhân bị đau thắt ngực
Sau khi phẫu thuật thành công các triệu chứng nói chung là giảm bớt. Nhu cầu các thuốc chống đau thắt ngực cũng giảm đi và chức năng thất trái tốt lên.
