Bớt bẩm sinh, bớt loạn sản, bớt xanh

2016-06-10 02:11 PM

Một lần nữa, ta cần nhấn mạnh mục tiêu của các bác sĩ không chuyên khoa là xác định được các bớt không bình thường chứ không cần thiết phải xác định đây là loại bớt gì.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Bớt bẩm sinh

Việc theo dõi các bớt bẩm sinh nhỏ, nhở hơn vài cm đường kính đang còn là vấn đề tranh cãi. Phần lớn bớt (> 97%) sẽ không bao giờ trở thành các tính, nhưng theo một số chuyên gia cho thấy rằng một số nguy cơ trở thành ác tính ở những bớt này hơi tăng một chút. Vì 1% người Cap ca zơ sinh ra đã có bớt này, nên việc quản lý bệnh nhân phải được bảo toàn và nên khuyên họ chỉ cắt bỏ thương tổn ở những vùng không ảnh hưởng tới thẩm mỹ và là những vùng mà bệnh nhân không thể dễ dàng tự nhìn thấy được thương tổn và để ý đến bất kỳ một sự biến đổi nghi ngờ của nó. Phẫu thuật nên được cân nhắc đối với những bớt bẩm sinh có bờ (mấp mô, u), hoặc màu sắc (màu khác nhau) mà nó làm cho người khám khó để ý tới các dấu hiệu thay đổi sớm của ung thư. Bớt tế bào sắc tố bẩm sinh khổng lồ có nguy cơ phát triển thành ung thư sắc tố lớn, và nên phẫu thuật cắt bỏ đúng giai đoạn.

Bớt loạn sản

Bớt loạn sản là một lĩnh vực khác cũng đang được tranh luận trong ngành da liễu. Những bớt này có kích thước lớn (> 5mm) và nhiễm sắc tố mạnh, và có bờ không đều, có màu đỏ lẫn với màu nâu. Hình ảnh giải phẫu bệnh đặc trưng, nhà giải phẫu có thể cho thấy được các mức độ không bình thường của thương tổn. Các bác sĩ nên coi đây là thương tổn nghi ngờ để xem xét.

Bệnh nhân có thể chỉ có một hoặc nhiều loại thương tổn như vậy. Khi có tính chất gia đình rõ và có nhiều u sắc tố thì những thương tổn đó nên nghĩ trước tới u sác tố, nếu một người chỉ có một bớt loạn sản duy nhất và tiền sử bản thân cũng như gia đình về bớt sắc tố không rõ ràng thì ít nghĩ tới u sắc tố. Tuy nhiên, phương pháp giải quyết thận trọng nhất đối với những bệnh nhân có bớt như vậy là khám toàn bộ cơ thể, phẫu thuật cắt bỏ những thương tổn nghi ngờ là u ác tính, và nên khám tất cả các thành viên trong gia đình bệnh nhân. Những bệnh nhân có bớt không bình thường phải theo dõi sát, tốt nhất là theo dõi bằng cách chụp ảnh. Tất cả các bệnh nhân có bớt loạn sản phải được theo rõi một cách có chu kỳ suốt cuộc đời. Một lần nữa, ta cần nhấn mạnh mục tiêu của các bác sĩ không chuyên khoa là xác định được các bớt không bình thường chứ không cần thiết phải xác định đây là loại bớt gì.

Bớt xanh

Bớt xanh là những bớt nhỏ, hơi nổi cao hơn mặt da, có màu xanh đen. Chúng rất phổ biến ở những người châu Ấ, một người có thể có nhiều thương tổn như vậy. Nếu bớt tồn tại mà không có sự thay đổi qua nhiều năm, thì có thể cho là lành tính, vì tỉ lệ bớt xanh bị ung thư hóa rất ít. Tuy nhiên, những sẩn và u màu xanh đen mới xuất hiện và to lên thì cần loại trừ ung thư sắc tố dạng u.

Bài viết cùng chuyên mục

Nấm kẽ: chẩn đoán và điều trị

Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.

Rối loạn sắc tố da

Trước hết cần xác định thế nào là tăng sắc tố và giảm sắc tố. Mỗi loại có thể là tiên phát hay thứ phát sau một bệnh khác.

Viêm da dạng herpes

Bệnh nhân có viêm ruột nhạy cảm với gluten, nhưng đôi với phần lớn bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.

Trứng cá đỏ

Không có một yếu tố đơn độc nào giải thích đúng căn nguyên và sinh bệnh học của bệnh trứng cá đỏ. Một thống kê cho thấy có sự kết hợp giữa đau nửa đầu với bệnh trứng cá đỏ.

Lang ben: chẩn đoán và điều trị

Dát nhạt màu cần chẩn đoán phân biệt với bạch biến, dựa vào sự xuất hiện các thương tổn. Bạch biến thường khu trú ở vùng quanh hốc tự nhiên và đầu ngón tay.

Ung thư tế bào đáy

Một số ít tổn thương có thể loét và gây một sự phá hủy lớn, cuối cùng xâm nhập các cấu trúc sống và hiếm khi xâm nhập vào não, gây tử vong.

Liken phẳng: chẩn đoán và điều trị

Một dạng đặc biệt của liken phẳng là các dạng trợt. Trên lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân nó có thể làm mất khả năng hoạt động.

Hồng ban ly tâm mãn tính

Ở trung tâm thương tổn nơi bị cắn thì lành, để lại một viền đỏ, nó cũng có thể nổi lên, tạo mụn nước hoặc hoại tử.

Ung thư sắc tố

Tử vong do ung thư sắc tố đang tăng với tỉ lệ nhanh hơn so với tỉ lệ tử vong do các loại ung thư khác, trừ ung thư phổi. Tuổi trung bình chết do ung thư sắc tố ít hơn do các loại ung thư da khác.

Nhọt và nhọt độc

Có nổi bật lên cảm giác đau và nhậy cảm, và với nhọt độc thì dữ dội hơn nhọt thường. Áp xe nang lông hoặc là tròn hoặc là hình nón.

Bệnh mày đay và phù mạch

Bệnh mày đay có thể được gây nên bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Cơ chế bệnh sinh có thể do cơ chế miễn dịch hoặc không do cơ chế miễn dịch.

Viêm kẽ: chẩn đoán và điều trị

Điều trị bằng cách luôn giữ cho vùng kẽ đó sạch, khô, và đắp các dung dịch mang lại hiệu quả cao. Nếu tìm thấy bào tử nấm hoặc vi khuẩn, thì phải bôi imidazol chống nấm dạng dung dịch, hoặc bột.

Bệnh Pemphigus: chẩn đoán và điều trị

Các tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở các màng niêm mạc miệng, và những tổn thương này nhanh chóng trở nên bị trợt da.

Viêm da bong vảy: chứng đỏ da tróc vảy

Các triệu chứng có thể gồm ngứa, mệt, ớn lạnh, sốt và sút cân. Rét run có thể nổi bật. Bong vảy da có thể toàn thân hoặc rộng và đôi khi cả rụng lông tóc và móng.

Một số bệnh da có bọng nước

Các bọng nước xuất hiện đầu tiên ở vùng quanh rốn và có thể có các mảng hoặc các nốt đỏ, mụn nước và bọng nước lớn.

Herpes simplex: vết loét do lạnh và do sốt

Triệu chứng cơ bản của herpes simplex là đau rát. Đau dây thần kinh có thể có trước hoặc có đồng thời với các triệu chứng khởi phát.

Những hình thái bất thường của móng

Điều quan trọng là phải, phân biệt được giữa rối loạn móng do bẩm sinh, hay di truyền với bệnh móng do sang chấn, và môi trường.

Sarcoma Kaposi: chẩn đoán và điều trị

Các tổn thương sarcoma Kaposi ở nhóm bệnh nhân này thường kèm theo thương tổn ở phổi và đường dạ dày ruột cũng như da.

Bệnh vảy nến

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.

Nhiễm nấm ở da

Nói chung, chỉ điều trị sau khi đã có chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm soi tươi hoặc nuôi cấy nấm, đặc biệt khi dùng thuốc chống nấm toàn thân.

Viêm da do ánh nắng

Phản ứng viêm da cấp tính, nếu đủ nặng thường kèm theo đau, triệu chứng đường ruột, khó chịu và thậm chí kiệt sức, điều này ít xẩy ra.

U mềm lây: chẩn đoán và điều trị

Các tổn thương có thể lan rộng do tự nhiễm. Trong hoạt động tình dục, chúng có thể giới hạn ở vùng sinh dục như dương vật, mu, và mặt trong đùi.

Bệnh nấm móng

Bệnh nấm móng thường khó điều trị vì đòi hỏi thời gian điều trị dài và bệnh hay tái phát. Nấm móng tay đáp ứng điều trị tốt hơn nấm móng chân.

Loét da do tỳ đè

Nếu vết loét lan rộng rất nhanh có thể là loét của viêm da mủ hoại tử kết hợp với bệnh viêm đường ruột.

Tàn nhang và nốt ruồi, dày sừng da mỡ

Những thương tổn này thường tăng số lượng tế bào sắc tố, và chúng không bị nhạt màu đi khi không còn tiếp xúc với ánh nắng, chúng được coi như tất cả các thường tổn sắc tố khác.