- Trang chủ
- Chẩn đoán & điều trị
- Chẩn đoán và điều trị bệnh da và phần phụ
- Luput ban đỏ dạng đĩa mạn tính
Luput ban đỏ dạng đĩa mạn tính
Khi ANA dương tính với hiệu giá cao, hoặc hình ảnh lâm sàng gợi có thương tổn nội tạng, có kháng thể chống ADN chuỗi kép và giảm bổ thể trong máu sẽ nghĩ tới luput ban đỏ hệ thống.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán
Mảng thương tổn đỏ, khu trú, không triệu chứng thường khu trú ở mặt, hình cánh bướm.
Trên thương tổn có vảy, dày sừng nang lông, teo da và giãn mạch.
Giải phẫu bệnh đặc hiệu.
Có thể có nhạy cảm với ánh sáng.
Đánh giá chung
Thể này của luput ban đỏ là một viêm dạng đĩa khu trú của da, thường ở những vùng tiếp xúc với ánh sáng. Nguyên nhân chưa biết.
Triệu chứng và dấu hiệu
Thường không có triệu chứng. Có một hoặc nhiều thương tổn, màu đỏ thẫm, ranh giới rõ, có kích thước 5 - 20 mm đường kính, khu trú chủ yếu ở mặt. Đầu, vành tai và niêm mạc cũng có thể bị. Thương tổn thường được phủ bởi lớp vảy dính, khô và có các nón sừng, có dày sừng, có teo da, và giãn mạch.
Xét nghiệm
Khi ANA dương tính với hiệu giá cao, hoặc hình ảnh lâm sàng gợi có thương tổn nội tạng, có kháng thể chống ADN chuỗi kép và giảm bổ thể trong máu sẽ nghĩ tới luput ban đỏ hệ thống. Rất hiếm bệnh nhân có nhạy cảm với ánh sáng và có hình ảnh lâm sàng rõ của một luput ban đỏ mà xét nghiệm ANA thì âm tính nhưng lại dương tính với kháng thể chống Ro/SSA. Xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang trực tiếp thấy có kháng thể kháng màng đáy nhưng có thể có dương tính giả ở những vùng da tiếp xúc với ầnh sáng.
Chẩn đoán phân biệt
Chẩn đoán dựa vào hình ảnh lâm sàng kết hợp với sinh thiết thông thường ở hầu hết các trường hợp. Vảy da khô giống "đinh bấm" và có thể phân biệt với vảy của viêm da dầu và vảy của vảy nến. Những thương tổn cũ mà để lại sẹo (cổ điển ở vùng loa tai) hoặc những vùng có rụng tóc cũng sẽ phải phân biệt với luput ban đỏ. Những thương tổn đơn độc có thể giống ung thư tế bào đáy thể xơ hóa là thể rất hiếm gặp. Sinh thiết da sẽ giúp chẩn đoán. Luput ban đỏ dạng đĩa khác với luput lao bởi sự vắng mặt của u và loét. 10% bệnh nhân luput ban đỏ hệ thống có thương tổn dạng đĩa.
Biến chúng
Thương tổn có thể lan rộng, gây rối loạn sắc tố, rụng tóc không hồi phục và sẹo.
Điều trị
Biện pháp chung
Tránh ánh nắng đối với bệnh nhân nhạy cảm. Chú ý: Không được điều trị bằng bất cứ một loại tia nào. Tránh dùng các loại thuốc gây nhạy cảm với ánh sáng (thiazid, piroxicam, doxycyclin) nếu có thể.
Điều trị tại chỗ
Nên dùng thử các loại thuốc bôi như sau trước khi dùng thuốc toàn thần: kem corticosteroid mạnh bôi vào buổi tối rồi băng bịt ni lông, hoặc băng Cordran, hoặc halobetasol propionat hoặc clobetasol propionat dạng kem hoặc mỡ ngày bôi hai lần không cần băng bịt.
Thâm nhiễm tại chỗ
Triamcinolon acetonid 2,5- lOmg/ml, tiêm vào thương tổn 1 lần / tháng. Nên điều trị thử bằng cách này trước khi dùng thuốc toàn thân .
Điều trị toàn thân
Thuốc chõng rốt rét:
Chú ý: những loại thuốc này chỉ nên dùng khi chẩn đoán đã chắc chắn, vì chúng có thể kết hợp làm vượng bệnh vảy nến, đây có thể nằm trong chẩn đoán phân biệt. Và thuốc cũng có thể gây những biến đổi tràm trọng về mắt, cần kiểm tra mắt trước khi dùng thuốc và kiểm tra thường kỳ 3 tháng một lần trong thời gian điều trị. Việc dùng thuốc chống rốt rét cho trẻ em đang còn tranh cãi.
Hydroxychloroquin sulfat, 0,2 - 0,4g/ngày uống trong vài tuần, thuốc có thể có tác dụng và thường dùng khi dùng chloroquin. Thường dùng thử trong 3 tháng.
Chloroquin sulfat, 250mg/ngày có thể có hiệu quả trong một vài trường hợp khi hydroxychloroquin không có tác dụng.
Quinacrin (Atabrine), 100mg/ngày, là thuốc an toàn nhất trong nhóm thuốc chống rốt rét, vì chưa có thông báo về tai biến mắt. Thuốc làm cho da có màu vàng nên nó không được chấp nhận dùng ở một số bệnh nhân.
Dapson:
Dapson 50mg/ngày có thể có lợi. Nên kiểm tra giải phẫu bệnh trước khi điều trị.
Istretinoin:
Trong một nghiên cứu người ta cho isotretinoin 80mg/ngày, thấy có tác dụng làm cho thương tổn da và các xét nghiệm trở về bình thường ở các bệnh nhân luput ban đỏ mạn và luput ban đỏ bán cấp. Vì tác dụng gây quái thai nên không dùng thuốc cho phụ nữ đang ở độ tuổi sinh đẻ không áp dụng các biện pháp tránh thai có hiệu quả. Cần được sự ưng thuận của bệnh nhân, cũng như phải làm phản ứng phát hiện thai trước khi điều trị loại thuốc này.
Tiên lượng
Bệnh tồn tại lâu dài nhưng không nguy hiểm đối với cuộc sống của bệnh nhân trừ khi kết hợp với luput ban đỏ hệ thống, nhưng điều này ít xảy ra. Điều trị bằng thuốc chống sốt rét có tác dụng trong 60% trường hợp. Mặc dù sự rắc rối do bệnh chỉ là vấn đề hình thức, đặc biệt gây chú ý ở những bệnh nhân có nước da sẫm màu và có thương tổn lan rộng.
Sẹo do rụng tđc có thể phòng được hoặc làm giảm bằng cách theo dõi sát và điều trị tích cực.
Bài viết cùng chuyên mục
Bệnh Pemphigus: chẩn đoán và điều trị
Các tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở các màng niêm mạc miệng, và những tổn thương này nhanh chóng trở nên bị trợt da.
Các thương tổn ở da do động vật chân đốt
Trong các kẽ hở của giường và đồ gỗ, các vết cắn có xu hướng theo đường thẳng hoặc thành đám. Mày đay sẩn là một tổn thương đặc trưng cho các vết cắn của rệp.
Viêm da thần kinh: liken thường mạn tính
Cách giải thích cổ điển về viêm da thần kinh là biểu hiện một chu kỳ ngứa gãi tự hết, nhưng không có bằng chứng cho rằng đây là nguyên nhân duy nhất gây nên do thói quen của bệnh nhân.
Viêm nang lông
Viêm nang lông do vi khuẩn gram âm, bệnh thường phát triển ở những người đang điều trị trứng cá bằng kháng sinh, có thể bệnh biểu hiện như một đợt bột phát của trứng cá mủ và trứng cá nốt.
Ban nấm da: dị ứng hoặc nhạy cảm với nấm
Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn cơ bản là từng nhóm mụn nước, thường khu trú ở mô cái và mô út. Đôi khi thương tổn khu trú ở mu bàn tay thậm chí có thể ở toàn thân.
Nhiễm nấm ở da
Nói chung, chỉ điều trị sau khi đã có chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm soi tươi hoặc nuôi cấy nấm, đặc biệt khi dùng thuốc chống nấm toàn thân.
Nấm tay và chân
Nấm ở chân là loại bệnh da cấp hoặc mạn tính hay gặp. Một số cá thể hay bị bệnh hơn người khác. Hầu hết các trưồng hơn đều do Trichophyton và Epidemophyton gây nên.
Hồng ban đa dạng
Hồng ban đa dạng là một bệnh da cấp tính đa hình thái do nhiều nguyên nhân gây nên hoặc do một nguyên nhân không xác định.
Viêm da dạng herpes
Bệnh nhân có viêm ruột nhạy cảm với gluten, nhưng đôi với phần lớn bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.
Nhọt và nhọt độc
Có nổi bật lên cảm giác đau và nhậy cảm, và với nhọt độc thì dữ dội hơn nhọt thường. Áp xe nang lông hoặc là tròn hoặc là hình nón.
Vảy phấn hồng Gibert
Các thương tổn cổ điển của vảy phấn hồng Gibert không có biểu hiện như vậy. Lang ben, phát ban do virus, và dị ứng thuốc có thể giống vảy phấn hồng Gibert.
Bệnh chấy rận
Nhiễm rận ở mu rất ít thấy, đặc biệt dễ gặp ở những người lông rậm; thậm chí có thể tìm thấy rận ở lông mi và ở da đầu.
Bệnh mày đay và phù mạch
Bệnh mày đay có thể được gây nên bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Cơ chế bệnh sinh có thể do cơ chế miễn dịch hoặc không do cơ chế miễn dịch.
Hồng ban ly tâm mãn tính
Ở trung tâm thương tổn nơi bị cắn thì lành, để lại một viền đỏ, nó cũng có thể nổi lên, tạo mụn nước hoặc hoại tử.
Một số bệnh da có bọng nước
Các bọng nước xuất hiện đầu tiên ở vùng quanh rốn và có thể có các mảng hoặc các nốt đỏ, mụn nước và bọng nước lớn.
Ung thư tế bào đáy
Một số ít tổn thương có thể loét và gây một sự phá hủy lớn, cuối cùng xâm nhập các cấu trúc sống và hiếm khi xâm nhập vào não, gây tử vong.
Tổ đỉa: chẩn đoán và điều trị
Các mụn nước trong, nhỏ, nằm rải rác ở hai bên của các ngón tay và ở lòng bàn tay, lòng bàn chân. Trông giống như hạt gạo tròn trong bột sắn. Các thương tổn này có thể rất ngứa.
Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da
Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.
Viêm da dị ứng tiếp xúc
Giai đoạn cấp tính thương tổn đặc trưng bởi các mụn nước nhỏ li ti, chảy nước và đóng vảy, khi thương tổn xẹp hoặc thương tổn mạn tính sẽ biểu hiện bằng các vảy da, đỏ da và có thể có dày da.
Nấm kẽ: chẩn đoán và điều trị
Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.
Ngứa: chẩn đoán và điều trị
Có nguyên nhân thông thường nhất của bệnh ngứa liên kết với bệnh toàn thân là tăng ure huyết liên quan đến bệnh tán máu.
Trứng cá đỏ
Không có một yếu tố đơn độc nào giải thích đúng căn nguyên và sinh bệnh học của bệnh trứng cá đỏ. Một thống kê cho thấy có sự kết hợp giữa đau nửa đầu với bệnh trứng cá đỏ.
Chàm thể tạng: bệnh da có vảy
Chàm thể tạng có hình thái và tỉ lệ khác nhau ở lứa tuổi khác nhau, vì hầu hết bệnh nhân chàm thể tạng có da khô và bong vảy ở một vài thời điểm nên bệnh này được thảo luận ở bệnh da có vảy.
Hồng ban nút
Nghiên cứu mô cho thấy viêm giữa các tế bào dưới da là đặc trưng của hồng ban nút. Mặt khác, phát hiện đó cũng thấy ở các bệnh có liên đới khác.
Chai chân: chẩn đoán và điều trị
Điều trị bao gồm sửa lại cho đúng các bất thường cơ học gây ra ma xát và tỳ đè. Phải đi giày vừa và điều chỉnh lại các biến dạng chỉnh hình.
