- Trang chủ
- Chẩn đoán & điều trị
- Chẩn đoán và điều trị bệnh da và phần phụ
- Lang ben: chẩn đoán và điều trị
Lang ben: chẩn đoán và điều trị
Dát nhạt màu cần chẩn đoán phân biệt với bạch biến, dựa vào sự xuất hiện các thương tổn. Bạch biến thường khu trú ở vùng quanh hốc tự nhiên và đầu ngón tay.
Biên tập viên: Trần Tiến Phong
Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương
Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán
Dát nhạt màu mà những dát này sẽ không sẫm màu lại, hoặc dát thẫm màu.
Dát mịn màu nâu, màu tráng, màu hồng hoặc thẫm màu, có vảy nhỏ khi cạo.
Khu trú chủ yếu ở thân mình.
Tìm thấy nấm ở vảy khi soi dưới kính hiển vi.
Đánh giá chung
Bệnh lang ben là một bệnh da do nhiễm nấm nông loại Pityrosporum orbiculare (Malassezia fufur) ở thân mình, bào tử nấm lang ben là một vật ký sinh ở da của người, do vậy bệnh thường tái phát mạnh vào 2 năm sau khi điều trị khỏi lần đầu. Người ta không hiểu tại sao một số bệnh nhân nấm lại biểu hiện ở dạng bào tử và dạng sợi, và có biểu hiện lâm sàng. Điều làm cho bệnh nhân chú ý là những vùng có thương tổn sẽ không sẫm màu lại được, và kết qủa của sự rối loạn màu da có thể chẩn đoán nhầm với bạch biến. Thể có dát thẫm màu ít gặp. Bệnh thường ít lây lan.
Tríệu chứng và dấu hiệu
Thương tổn thường không có triệu chứng, trừ một vài bệnh nhân có ngứa nhẹ. Thương tổn là những dát mịn có màu thẫm, màu hồng, màu trắng hoặc màu nâu, có kích thước 4 - 5 mm khu trú ở một vùng rộng, thoạt nhìn thương tổn như không có vảy, nhưng cạo thì sẽ có vảy. Thương tổn khu trú ỡ thân mình, cẳng tay, cổ, mặt và bẹn.
Xét nghiệm
Nhiều sợi nấm lớn và bào tử vách dày có chỗ (hình mì ống với thịt viên) có thể nhìn thấy được dưới kính hiển vi ở vật kính có độ phóng đạt nhỏ, bệnh phẩm là vảy được làm rõ ra trong dung dịch KOH 10%. Nuôi cấy không có giá trị vì P. Ovale và P. Orbiculare đòi hỏi phải có điều kiện đặc biệt và chúng thường có mặt ở da của người bình thường.
Chấn đoán phân biệt
Dát nhạt màu cần chẩn đoán phân biệt với bạch biến, dựa vào sự xuất hiện các thương tổn. Bạch biến thường khu trú ở vùng quanh hốc tự nhiên và đầu ngón tay. Đặc điểm của thương tổn bạch biển (chứ không có ở thương tổn lang ben) là sự mất sắc tố hoàn toàn, không còn tý sắc tố nào. Dát màu nâu và màu hồng ở ngực cần phân biệt với viêm da tiết bã nhờn ở vùng vị trí bằng kỹ thuật xét nghiệm KOH.
Điều trị và tiên lượng
Thuốc bôi bao gồm dung dịch selenium sulfit, có thể bôi hàng ngày từ cổ xuống đến vùng thắt lưng trong 5 - 15 phút liên tục trong 7 ngày; điều trị như vậy được nhắc lại hàng tuần trong một tháng, rồi điều trị duy trì hàng tháng. Shampoo ketoconazol cũng được điều trị duy trì hằng tuần. Chúng ta cần giải thích cho bệnh nhân hiểu rằng sự nổi gờ lên và có vảy của dát sẽ được điều trị khỏi, còn sự thay đổi màu sắc ở các thương tổn có thể kéo dài hằng tháng để trở lại bình thường. Chúng ta cũng có thể dùng propylen glycol hoà trong nước với tỷ lệ 1:1, nếu kích thích da có thể hoà loãng thuốc bằng nước. Một thuốc khác cũng được chọn để dùng là acid salicylic 3% trong cồn và dung dịch Tinver (có chứa sodium thiosulfat). Bệnh nhân thường phân nàn về sự kích thích da và mùi hôi của những loại thuốc này. Tái phát hay gặp.
Xà phòng hoặc shampoo acid sulíursalicylic (Sebulex) dùng một cách liên tục có thể có tác dụng.
Ketoconazol, 200mg/ngày, uống trong 1 tuần hoặc 400mg liều duy nhất, kết quả điều trị khỏi trong thời gian ngắn là 90% trường hợp. Liều duy nhất có thể không có tác dụng ở những vùng nóng và ẩm của nước Mỹ, và điều trị kéo dài hơn thì chữa khỏi được một số nhỏ nhưng hạn chế được nguy cơ gây viêm gan do thuốc để được một bệnh hoàn toàn lành tính. Nếu không điều trị duy trì thì bệnh sẽ tái phát sau 2 năm vào khoảng 80% các trường hợp đã được chữa khỏi. Nên hướng dẫn cho bệnh nhân không được tắm trong vòng 12 - 18 giờ sau khi uống ketoconazol, vì thuốc được bài tiết ra tuyến mồ hôi ở da.
Thuốc bôi mới imidazol dạng kem, dung dịch, và dịch treo có tác dụng rất tốt đối với thương tổn khu trú nhưng qúa đắt nếu dùng cho vùng rộng lớn như ngực và lưng.
Bài viết cùng chuyên mục
Bệnh dày sừng do ánh nắng
Phương pháp điều trị nhanh và có hiệu qủa là dùng nitơ lỏng. Thương tổn bị đông lạnh sau vài giây khi dùng tăm bông nhúng trong nitơ lỏng hoặc bằng phương pháp phun.
Viêm tế bào: chẩn đoán và điều trị
Chẩn đoán phân biệt bao gồm viêm da tiếp xúc cấp ở một chi gây đỏ da, mụn nước và phù như trong viêm mô tế bào nhưng ngứa thay thế bằng triệu chứng đau.
Viêm da thần kinh: liken thường mạn tính
Cách giải thích cổ điển về viêm da thần kinh là biểu hiện một chu kỳ ngứa gãi tự hết, nhưng không có bằng chứng cho rằng đây là nguyên nhân duy nhất gây nên do thói quen của bệnh nhân.
Luput ban đỏ dạng đĩa mạn tính
Khi ANA dương tính với hiệu giá cao, hoặc hình ảnh lâm sàng gợi có thương tổn nội tạng, có kháng thể chống ADN chuỗi kép và giảm bổ thể trong máu sẽ nghĩ tới luput ban đỏ hệ thống.
Ung thư sắc tố
Tử vong do ung thư sắc tố đang tăng với tỉ lệ nhanh hơn so với tỉ lệ tử vong do các loại ung thư khác, trừ ung thư phổi. Tuổi trung bình chết do ung thư sắc tố ít hơn do các loại ung thư da khác.
Bệnh nấm móng
Bệnh nấm móng thường khó điều trị vì đòi hỏi thời gian điều trị dài và bệnh hay tái phát. Nấm móng tay đáp ứng điều trị tốt hơn nấm móng chân.
Bệnh Bowen và bệnh Paget
Bệnh tiến triển lành tính, nhưng khi những thương tổn này phát triển thành ung thư tế bào gai xâm lấn, thì cắt bỏ hoặc chỉ định phương pháp điều trị khác.
Bệnh chấy rận
Nhiễm rận ở mu rất ít thấy, đặc biệt dễ gặp ở những người lông rậm; thậm chí có thể tìm thấy rận ở lông mi và ở da đầu.
Viêm da dạng herpes
Bệnh nhân có viêm ruột nhạy cảm với gluten, nhưng đôi với phần lớn bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.
Nấm tóc: chẩn đoán và điều trị
Hầu hết các trường hợp nhiễm nấm đều không có triệu chứng. Các thương tổn giống chốc và kerion có thể nổi bật bằng sự đau đớn. Cần khám tất cả các trương hợp có vảy mà không có viêm.
Bệnh mày đay và phù mạch
Bệnh mày đay có thể được gây nên bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Cơ chế bệnh sinh có thể do cơ chế miễn dịch hoặc không do cơ chế miễn dịch.
Nấm tay và chân
Nấm ở chân là loại bệnh da cấp hoặc mạn tính hay gặp. Một số cá thể hay bị bệnh hơn người khác. Hầu hết các trưồng hơn đều do Trichophyton và Epidemophyton gây nên.
Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da
Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.
Các thương tổn sắc tố da
Những bớt nghi ngờ là những bớt có bờ không đều, không đối xứng hoặc bờ có tua là nơi mà sắc tố thường phát triển lan ra cả phần da bình thường quanh nó.
Các thương tổn ở da do động vật chân đốt
Trong các kẽ hở của giường và đồ gỗ, các vết cắn có xu hướng theo đường thẳng hoặc thành đám. Mày đay sẩn là một tổn thương đặc trưng cho các vết cắn của rệp.
U mềm lây: chẩn đoán và điều trị
Các tổn thương có thể lan rộng do tự nhiễm. Trong hoạt động tình dục, chúng có thể giới hạn ở vùng sinh dục như dương vật, mu, và mặt trong đùi.
Chai chân: chẩn đoán và điều trị
Điều trị bao gồm sửa lại cho đúng các bất thường cơ học gây ra ma xát và tỳ đè. Phải đi giày vừa và điều chỉnh lại các biến dạng chỉnh hình.
Ung thư tế bào đáy
Một số ít tổn thương có thể loét và gây một sự phá hủy lớn, cuối cùng xâm nhập các cấu trúc sống và hiếm khi xâm nhập vào não, gây tử vong.
Bệnh Zona: chẩn đoán và điều trị
Bệnh zona là một bệnh da có bọng nước cấp tính do virus mà virus có hình thái giống như virus thủy đậu. Bệnh thường gặp ở người lớn. Hầu hết bệnh nhân chỉ bị zona một lần.
Một số bệnh da có bọng nước
Các bọng nước xuất hiện đầu tiên ở vùng quanh rốn và có thể có các mảng hoặc các nốt đỏ, mụn nước và bọng nước lớn.
Ngứa ở vùng hậu môn sinh dục
Ở phụ nữ ngứa hậu môn đơn thuần rất hiếm còn ngứa âm hộ không phải lúc nào cũng đi kèm ngứa vùng hậu môn, mặc dù ngứa hậu môn thì thường lan tới âm hộ.
Sarcoma Kaposi: chẩn đoán và điều trị
Các tổn thương sarcoma Kaposi ở nhóm bệnh nhân này thường kèm theo thương tổn ở phổi và đường dạ dày ruột cũng như da.
Nhiễm nấm ở da
Nói chung, chỉ điều trị sau khi đã có chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm soi tươi hoặc nuôi cấy nấm, đặc biệt khi dùng thuốc chống nấm toàn thân.
Ban nấm da: dị ứng hoặc nhạy cảm với nấm
Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn cơ bản là từng nhóm mụn nước, thường khu trú ở mô cái và mô út. Đôi khi thương tổn khu trú ở mu bàn tay thậm chí có thể ở toàn thân.
Nấm kẽ: chẩn đoán và điều trị
Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.
