Lang ben: chẩn đoán và điều trị

2016-06-16 07:14 PM

Dát nhạt màu cần chẩn đoán phân biệt với bạch biến, dựa vào sự xuất hiện các thương tổn. Bạch biến thường khu trú ở vùng quanh hốc tự nhiên và đầu ngón tay.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán

Dát nhạt màu mà những dát này sẽ không sẫm màu lại, hoặc dát thẫm màu.

Dát mịn màu nâu, màu tráng, màu hồng hoặc thẫm màu, có vảy nhỏ khi cạo.

Khu trú chủ yếu ở thân mình.

Tìm thấy nấm ở vảy khi soi dưới kính hiển vi.

Đánh giá chung

Bệnh lang ben là một bệnh da do nhiễm nấm nông loại Pityrosporum orbiculare (Malassezia fufur) ở thân mình, bào tử nấm lang ben là một vật ký sinh ở da của người, do vậy bệnh thường tái phát mạnh vào 2 năm sau khi điều trị khỏi lần đầu. Người ta không hiểu tại sao một số bệnh nhân nấm lại biểu hiện ở dạng bào tử và dạng sợi, và có biểu hiện lâm sàng. Điều làm cho bệnh nhân chú ý là những vùng có thương tổn sẽ không sẫm màu lại được, và kết qủa của sự rối loạn màu da có thể chẩn đoán nhầm với bạch biến. Thể có dát thẫm màu ít gặp. Bệnh thường ít lây lan.

Tríệu chứng và dấu hiệu

Thương tổn thường không có triệu chứng, trừ một vài bệnh nhân có ngứa nhẹ. Thương tổn là những dát mịn có màu thẫm, màu hồng, màu trắng hoặc màu nâu, có kích thước 4 - 5 mm khu trú ở một vùng rộng, thoạt nhìn thương tổn như không có vảy, nhưng cạo thì sẽ có vảy. Thương tổn khu trú ỡ thân mình, cẳng tay, cổ, mặt và bẹn.

Xét nghiệm

Nhiều sợi nấm lớn và bào tử vách dày có chỗ (hình mì ống với thịt viên) có thể nhìn thấy được dưới kính hiển vi ở vật kính có độ phóng đạt nhỏ, bệnh phẩm là vảy được làm rõ ra trong dung dịch KOH 10%. Nuôi cấy không có giá trị vì P. Ovale và P. Orbiculare đòi hỏi phải có điều kiện đặc biệt và chúng thường có mặt ở da của người bình thường.

Chấn đoán phân biệt

Dát nhạt màu cần chẩn đoán phân biệt với bạch biến, dựa vào sự xuất hiện các thương tổn. Bạch biến thường khu trú ở vùng quanh hốc tự nhiên và đầu ngón tay. Đặc điểm của thương tổn bạch biển (chứ không có ở thương tổn lang ben) là sự mất sắc tố hoàn toàn, không còn tý sắc tố nào. Dát màu nâu và màu hồng ở ngực cần phân biệt với viêm da tiết bã nhờn ở vùng vị trí bằng kỹ thuật xét nghiệm KOH.

Điều trị và tiên lượng

Thuốc bôi bao gồm dung dịch selenium sulfit, có thể bôi hàng ngày từ cổ xuống đến vùng thắt lưng trong 5 - 15 phút liên tục trong 7 ngày; điều trị như vậy được nhắc lại hàng tuần trong một tháng, rồi điều trị duy trì hàng tháng. Shampoo ketoconazol cũng được điều trị duy trì hằng tuần. Chúng ta cần giải thích cho bệnh nhân hiểu rằng sự nổi gờ lên và có vảy của dát sẽ được điều trị khỏi, còn sự thay đổi màu sắc ở các thương tổn có thể kéo dài hằng tháng để trở lại bình thường. Chúng ta cũng có thể dùng propylen glycol hoà trong nước với tỷ lệ 1:1, nếu kích thích da có thể hoà loãng thuốc bằng nước. Một thuốc khác cũng được chọn để dùng là acid salicylic 3% trong cồn và dung dịch Tinver (có chứa sodium thiosulfat). Bệnh nhân thường phân nàn về sự kích thích da và mùi hôi của những loại thuốc này. Tái phát hay gặp.

Xà phòng hoặc shampoo acid sulíursalicylic (Sebulex) dùng một cách liên tục có thể có tác dụng.

Ketoconazol, 200mg/ngày, uống trong 1 tuần hoặc 400mg liều duy nhất, kết quả điều trị khỏi trong thời gian ngắn là 90% trường hợp. Liều duy nhất có thể không có tác dụng ở những vùng nóng và ẩm của nước Mỹ, và điều trị kéo dài hơn thì chữa khỏi được một số nhỏ nhưng hạn chế được nguy cơ gây viêm gan do thuốc để được một bệnh hoàn toàn lành tính. Nếu không điều trị duy trì thì bệnh sẽ tái phát sau 2 năm vào khoảng 80% các trường hợp đã được chữa khỏi. Nên hướng dẫn cho bệnh nhân không được tắm trong vòng 12 - 18 giờ sau khi uống ketoconazol, vì thuốc được bài tiết ra tuyến mồ hôi ở da.

Thuốc bôi mới imidazol dạng kem, dung dịch, và dịch treo có tác dụng rất tốt đối với thương tổn khu trú nhưng qúa đắt nếu dùng cho vùng rộng lớn như ngực và lưng.

Bài viết cùng chuyên mục

Viêm kẽ: chẩn đoán và điều trị

Điều trị bằng cách luôn giữ cho vùng kẽ đó sạch, khô, và đắp các dung dịch mang lại hiệu quả cao. Nếu tìm thấy bào tử nấm hoặc vi khuẩn, thì phải bôi imidazol chống nấm dạng dung dịch, hoặc bột.

Ngứa ở vùng hậu môn sinh dục

Ở phụ nữ ngứa hậu môn đơn thuần rất hiếm còn ngứa âm hộ không phải lúc nào cũng đi kèm ngứa vùng hậu môn, mặc dù ngứa hậu môn thì thường lan tới âm hộ.

Bệnh nấm móng

Bệnh nấm móng thường khó điều trị vì đòi hỏi thời gian điều trị dài và bệnh hay tái phát. Nấm móng tay đáp ứng điều trị tốt hơn nấm móng chân.

Nấm kẽ: chẩn đoán và điều trị

Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.

Herpes simplex: vết loét do lạnh và do sốt

Triệu chứng cơ bản của herpes simplex là đau rát. Đau dây thần kinh có thể có trước hoặc có đồng thời với các triệu chứng khởi phát.

Ghẻ: chẩn đoán và điều trị

Các tổn thương đặc trưng có thể gặp ở núm vú phụ nữ và như là các mụn nước có thể thấy ở mông. Viêm da mủ thường là dấu hiệu biểu hiện của bệnh.

Hạt cơm: chẩn đoán và điều trị

Một số tổn thương giống hạt cơm ở các vùng da tiếp xúc ánh mặt trời thực tế lại là các ung thư tế bào gai và dày sừng quá sản do ánh nắng.

Chẩn đoán các bệnh lý da

Tiền sử cũng rất quan trọng trong việc đánh giá sự thất bại trong điều trị. Đối với chuyên khoa ngoài da, trong phần tiền sử này cần có chi tiết cụ thể về cách bệnh nhân đã sử dụng các thuốc bôi như thế nào.

Viêm da tiết bã nhờn và bệnh gàu

Có thể có ngứa nhưng không tồn tại hằng định. Các vùng da đầu, mặt, ngực, lưng, rốn, các nếp của da có thể nhờn hoặc khô với vảy khô hoặc vảy vàng nhờn. Bờ mi cũng có thể có tổn thương.

Nấm thân hoặc nấm hình vòng

Xét nghiệm nấm dương tính đã phân biệt được bệnh nấm thân với các thương tổn có hình tròn khác như vảy nến, luput đỏ, giang mai, họng ban đa dạng và vảy phấn hồng Gibert.

Nhọt và nhọt độc

Có nổi bật lên cảm giác đau và nhậy cảm, và với nhọt độc thì dữ dội hơn nhọt thường. Áp xe nang lông hoặc là tròn hoặc là hình nón.

Một số bệnh da có bọng nước

Các bọng nước xuất hiện đầu tiên ở vùng quanh rốn và có thể có các mảng hoặc các nốt đỏ, mụn nước và bọng nước lớn.

Loét da do tỳ đè

Nếu vết loét lan rộng rất nhanh có thể là loét của viêm da mủ hoại tử kết hợp với bệnh viêm đường ruột.

Bệnh Pemphigus: chẩn đoán và điều trị

Các tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở các màng niêm mạc miệng, và những tổn thương này nhanh chóng trở nên bị trợt da.

Ung thư tế bào đáy

Một số ít tổn thương có thể loét và gây một sự phá hủy lớn, cuối cùng xâm nhập các cấu trúc sống và hiếm khi xâm nhập vào não, gây tử vong.

Viêm da do ánh nắng

Phản ứng viêm da cấp tính, nếu đủ nặng thường kèm theo đau, triệu chứng đường ruột, khó chịu và thậm chí kiệt sức, điều này ít xẩy ra.

Trứng cá thường

Bệnh hay gặp hơn và cũng thường nặng hơn ở nam giới. Trái với quan niệm của dân chúng, bệnh không tự khỏi khi trưởng thành. Nếu không được điều trị, bệnh tồn tại đến tuổi 40, 50 hoặc thậm chí tuổi 60.

Loét cẳng chân thứ phát sau thiểu năng tĩnh mạch

Bệnh nhân thường có một tiền sử lâu dài bị thiểu năng tĩnh mạch. Viêm da thường xuất hiện sau phù nề mạn tính, và thường rất ngứa.

Nấm tay và chân

Nấm ở chân là loại bệnh da cấp hoặc mạn tính hay gặp. Một số cá thể hay bị bệnh hơn người khác. Hầu hết các trưồng hơn đều do Trichophyton và Epidemophyton gây nên.

Bớt bẩm sinh, bớt loạn sản, bớt xanh

Một lần nữa, ta cần nhấn mạnh mục tiêu của các bác sĩ không chuyên khoa là xác định được các bớt không bình thường chứ không cần thiết phải xác định đây là loại bớt gì.

Hồng ban ly tâm mãn tính

Ở trung tâm thương tổn nơi bị cắn thì lành, để lại một viền đỏ, nó cũng có thể nổi lên, tạo mụn nước hoặc hoại tử.

U mềm lây: chẩn đoán và điều trị

Các tổn thương có thể lan rộng do tự nhiễm. Trong hoạt động tình dục, chúng có thể giới hạn ở vùng sinh dục như dương vật, mu, và mặt trong đùi.

Viêm da thần kinh: liken thường mạn tính

Cách giải thích cổ điển về viêm da thần kinh là biểu hiện một chu kỳ ngứa gãi tự hết, nhưng không có bằng chứng cho rằng đây là nguyên nhân duy nhất gây nên do thói quen của bệnh nhân.

Chốc: thương tổn ướt có vảy

Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn lâm sàng là các dát, mụn nước, bọng nước, mụn mủ, và vảy tiết màu vàng sáp ong dính. Khi cậy bỏ vảy sẽ để lại vết trợt màu đỏ.

Bệnh mày đay và phù mạch

Bệnh mày đay có thể được gây nên bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Cơ chế bệnh sinh có thể do cơ chế miễn dịch hoặc không do cơ chế miễn dịch.