Nấm kẽ: chẩn đoán và điều trị

2016-06-14 11:43 PM

Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.

Biên tập viên: Trần Tiến Phong

Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương

Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán

Rất ngứa ở vùng kẽ, vùng bìu thường ít.

Thương tổn là dát đỏ, trung tâm sạch, ranh giới rõ, có vảy và lan rộng ra xung quanh.

Có thể kết hợp với nhiễm nấm ở chân.

Xét nghiệm soi tươi và nuôi cấy xác định được chẩn đoán.

Đánh giá chung

Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn. Bệnh thường gặp ở những người vận động viên và những người béo phệ hoặc người có nhiều mỡ, hôi. Bất cứ loại nấm da nào cũng có thể gây bệnh nấm kẽ, và nó có thể lây sang bẹn từ nấm đang tiến triển ở chân. Ngứa hậu môn khó chữa có thể do nhiễm nấm.

Triệu chứng và dấu hiệu

Ngứa có thể rất dữ dội, hoặc chỉ là những ban không triệu chứng. Thương tổn là các dát đỏ có bờ rõ, trung tâm sạch, bờ thương tổn có vảy, có hoạt tính và lan rông ra xung quanh vùng kẽ. Có tạo thành mụn nước ở bờ, và các thương tổn mụn nước vệ tinh nhưng ít gặp. Đôi khi có viêm mủ nang lông.

Xét nghiệm

Có thể tìm thấy sợi nấm khi soi dưới kính hiển vi bằng phương pháp ngâm bệnh phẩm trong dung dịch KOH 10%. Nấm cũng có thể thấy bằng phương pháp nuôi cấy. Có thể để sẹo sau khi lành bệnh.

Chẩn đoán phân biệt

Nấm kẽ phải được phân biệt với các thương tổn khác ở vùng kẽ như bệnh nấm candida, lang ben, viêm da tiết bã nhờn, viêm kẽ, vảy nến thể đảo ngược và bệnh nấm corynebacterium minutissimum. Bệnh nấm candida thường có màu đỏ tươi và có các thượng tổn vệ tinh, sẩn, mụn mủ ở phía ngoài bờ thương tổn chính. Lang ben có thể chẩn đoán bằng phương pháp soi tươi trong KOH, vì tác nhân gây bệnh được phân biệt với nấm thực sự. Viêm da tiết bã nhờn ở vùng kẽ. Các thương tổn của viêm da tiết bã nhờn ở vùng kẽ cũng khu trú ở mặt, vùng ức, và nách. Viêm kẽ có xu hướng đỏ hơn, ít vảy, gặp ở những người béo phỉ vì kẽ thường ẩm ướt. Vảy nến thể đảo ngược biểu hiện bằng những mảng thương tổn riêng rẽ và thường ngứa hơn nấm kẽ. Vị trí khác của vảy nến điển hình nên được kiểm tra, và xét nghiệm tìm nấm sẽ âm tính. Chẩn đoán bệnh nấm corynebacterium minutissimum tốt nhất bằng đèn Wood, sẽ có phát quang màu đỏ san hô sáng.

Điều trị

Biện pháp chung

Đối vái những người có nhiều mồ hôi và những người béo bệu nên rắc phấn vào vùng kẽ. Tránh tắm quá nhiều. Nên mặc quần áo lót rộng.

Bìện pháp lại chỗ

Tất cả các thuốc dùng trong nấm đều có thể dùng. Các thuốc rất khác nhau về giá cả, miconazol, clotrimazol có trong OTC thường rẻ hơn. Kem ketoconazol và sulconazol có thể dùng 1 lần/ngày thay cho dùng 2 lần ngày. Kem Terbinafin có thể chữa khỏi 80% trường hợp sau khi dùng 2 lần/ngày trong 7 ngày,

Biện pháp toàn thân

Griseofulvin dạng siêu nhỏ được chỉ định trong những trường hợp nặng, với liều 250 - 500mg uống ngày 2 lần trong 1- 2 tuần.

Tiên lượng

Nấm kẽ đáp ứng rất nhanh với thuốc bôi hoặc uống. Có thể để lại sẹo thâm sau khi khỏi.

Bài viết cùng chuyên mục

Các thương tổn ở da do động vật chân đốt

Trong các kẽ hở của giường và đồ gỗ, các vết cắn có xu hướng theo đường thẳng hoặc thành đám. Mày đay sẩn là một tổn thương đặc trưng cho các vết cắn của rệp.

Bệnh nấm candida da và niêm mạc

Cần chẩn đoán phân biệt với viêm kẽ, viêm da đầu, nấm kẽ, vảy nến thể đảo ngược và bệnh nấm Corynebacterium minutissimum.

Nấm thân hoặc nấm hình vòng

Xét nghiệm nấm dương tính đã phân biệt được bệnh nấm thân với các thương tổn có hình tròn khác như vảy nến, luput đỏ, giang mai, họng ban đa dạng và vảy phấn hồng Gibert.

Bệnh vảy nến

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.

Viêm da do ánh nắng

Phản ứng viêm da cấp tính, nếu đủ nặng thường kèm theo đau, triệu chứng đường ruột, khó chịu và thậm chí kiệt sức, điều này ít xẩy ra.

Nấm tay và chân

Nấm ở chân là loại bệnh da cấp hoặc mạn tính hay gặp. Một số cá thể hay bị bệnh hơn người khác. Hầu hết các trưồng hơn đều do Trichophyton và Epidemophyton gây nên.

Herpes simplex: vết loét do lạnh và do sốt

Triệu chứng cơ bản của herpes simplex là đau rát. Đau dây thần kinh có thể có trước hoặc có đồng thời với các triệu chứng khởi phát.

Loét cẳng chân thứ phát sau thiểu năng tĩnh mạch

Bệnh nhân thường có một tiền sử lâu dài bị thiểu năng tĩnh mạch. Viêm da thường xuất hiện sau phù nề mạn tính, và thường rất ngứa.

Bớt bẩm sinh, bớt loạn sản, bớt xanh

Một lần nữa, ta cần nhấn mạnh mục tiêu của các bác sĩ không chuyên khoa là xác định được các bớt không bình thường chứ không cần thiết phải xác định đây là loại bớt gì.

Ban nấm da: dị ứng hoặc nhạy cảm với nấm

Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn cơ bản là từng nhóm mụn nước, thường khu trú ở mô cái và mô út. Đôi khi thương tổn khu trú ở mu bàn tay thậm chí có thể ở toàn thân.

Viêm da dạng herpes

Bệnh nhân có viêm ruột nhạy cảm với gluten, nhưng đôi với phần lớn bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.

Bệnh dày sừng do ánh nắng

Phương pháp điều trị nhanh và có hiệu qủa là dùng nitơ lỏng. Thương tổn bị đông lạnh sau vài giây khi dùng tăm bông nhúng trong nitơ lỏng hoặc bằng phương pháp phun.

Trứng cá đỏ

Không có một yếu tố đơn độc nào giải thích đúng căn nguyên và sinh bệnh học của bệnh trứng cá đỏ. Một thống kê cho thấy có sự kết hợp giữa đau nửa đầu với bệnh trứng cá đỏ.

Tàn nhang và nốt ruồi, dày sừng da mỡ

Những thương tổn này thường tăng số lượng tế bào sắc tố, và chúng không bị nhạt màu đi khi không còn tiếp xúc với ánh nắng, chúng được coi như tất cả các thường tổn sắc tố khác.

Một số bệnh da có bọng nước

Các bọng nước xuất hiện đầu tiên ở vùng quanh rốn và có thể có các mảng hoặc các nốt đỏ, mụn nước và bọng nước lớn.

Những hình thái bất thường của móng

Điều quan trọng là phải, phân biệt được giữa rối loạn móng do bẩm sinh, hay di truyền với bệnh móng do sang chấn, và môi trường.

Ung thư sắc tố

Tử vong do ung thư sắc tố đang tăng với tỉ lệ nhanh hơn so với tỉ lệ tử vong do các loại ung thư khác, trừ ung thư phổi. Tuổi trung bình chết do ung thư sắc tố ít hơn do các loại ung thư da khác.

Ung thư tế bào đáy

Một số ít tổn thương có thể loét và gây một sự phá hủy lớn, cuối cùng xâm nhập các cấu trúc sống và hiếm khi xâm nhập vào não, gây tử vong.

Chai chân: chẩn đoán và điều trị

Điều trị bao gồm sửa lại cho đúng các bất thường cơ học gây ra ma xát và tỳ đè. Phải đi giày vừa và điều chỉnh lại các biến dạng chỉnh hình.

Chẩn đoán các bệnh lý da

Tiền sử cũng rất quan trọng trong việc đánh giá sự thất bại trong điều trị. Đối với chuyên khoa ngoài da, trong phần tiền sử này cần có chi tiết cụ thể về cách bệnh nhân đã sử dụng các thuốc bôi như thế nào.

Tổ đỉa: chẩn đoán và điều trị

Các mụn nước trong, nhỏ, nằm rải rác ở hai bên của các ngón tay và ở lòng bàn tay, lòng bàn chân. Trông giống như hạt gạo tròn trong bột sắn. Các thương tổn này có thể rất ngứa.

Viêm nang lông

Viêm nang lông do vi khuẩn gram âm, bệnh thường phát triển ở những người đang điều trị trứng cá bằng kháng sinh, có thể bệnh biểu hiện như một đợt bột phát của trứng cá mủ và trứng cá nốt.

Bệnh Zona: chẩn đoán và điều trị

Bệnh zona là một bệnh da có bọng nước cấp tính do virus mà virus có hình thái giống như virus thủy đậu. Bệnh thường gặp ở người lớn. Hầu hết bệnh nhân chỉ bị zona một lần.

Viêm tế bào: chẩn đoán và điều trị

Chẩn đoán phân biệt bao gồm viêm da tiếp xúc cấp ở một chi gây đỏ da, mụn nước và phù như trong viêm mô tế bào nhưng ngứa thay thế bằng triệu chứng đau.

Viêm quầng: chẩn đoán và điều trị

Thương tổn không bao giờ hóa mủ và hoại tử và khi khỏi không để lại sẹo. Bệnh có thể biến chứng gây rách da tạo cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập.